Luận văn: Thuật toán định tuyến mạng không dây địa hình xấu - ĐH Công Nghệ

Luận văn thạc sĩ toán học phân tích mạng không dây địa hình xấu thuật toán định tuyến và ứng dụng, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Chuyên ngành

Công Nghệ Thông Tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2010

68
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC HÌNH

BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG CẢM BIẾN VÔ TUYẾN (WSN)

1.1. Giới thiệu chung

1.2. Mạng Ad hoc [11]

1.3. Mạng cảm biến vô tuyến (Wireless Sensor Network) [1]-[2]-[9]-[11]

1.4. Nút cảm biến trong mạng cảm biến vô tuyến [6]

1.5. Đặc tính của mạng cảm biến vô tuyến [5]-[6]

1.6. Một số chuẩn mạng cảm biến vô tuyến [1]

1.7. Ứng dụng của mạng cảm biến vô tuyến [2]

1.8. Tóm tắt chƣơng

2. CHƢƠNG 2: ĐỊNH TUYẾN TRONG MẠNG CẢM BIẾN VÔ TUYẾN

2.1. Giao thức định tuyến [5]-[6]-[10]-[13]

2.2. Các giao thức định tuyến dựa trên cấu trúc mạng [5]-[6]

2.3. Định tuyến các mạng phẳng

2.4. Định tuyến các mạng phân cấp [6]

2.5. Định tuyến dựa trên vị trí [6]

2.6. Định tuyến dựa trên thao tác giao thức [6]

2.7. Các giao thức định tuyến đa đƣờng

2.8. Định tuyến dựa vào truy vấn

2.9. Các giao thức định tuyến dựa trên sự điều chỉnh

2.10. Định tuyến dựa trên chất lƣợng dịch vụ (QoS)

2.11. Định tuyến coherent và non-coherent

2.12. Thuật toán định tuyến [8]-[9]

2.13. Cơ bản về mạng và đồ thị

2.14. Cây lan tỏa tối thiểu (MST – Minimum Spanning Tree)

2.15. Cây đƣờng đi ngắn nhất (SPT – Shortest Path Tree)

2.16. Một số thuật toán cây lan tỏa tối thiểu

2.17. Thuật toán Prim

2.18. Thuật toán Bor vka

2.19. Thuật toán Kruskal

2.20. Một số thuật toán cây đƣờng đi ngắn nhất

2.21. Thuật toán Dijkstra

2.22. Thuật toán Ford-Bellman

2.23. Các thuật toán phân tán

2.24. Thuật toán Ford-Bellman phân tán

2.25. Thuật toán MST phân tán

2.26. Thuật toán cây lan tỏa

2.27. Thuật toán cặp (Định vị hóa theo thuật toán Prim và Dijkstra)

2.28. Tóm tắt chƣơng

3. CHƢƠNG 3: ĐỊNH TUYẾN ĐỊA HÌNH XẤU – MÔ PHỎNG VÀ ĐÁNH GIÁ

3.1. Sơ lƣợc về bộ mô phỏng mạng NS-2 [4]

3.2. Thực hiện mô phỏng [7]-[14]-[15]

3.3. Tóm tắt chƣơng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Mạng Không Dây Địa Hình Xấu Giới Thiệu Ứng Dụng

Cùng với sự phát triển của công nghệ, mạng không dây ngày càng trở nên quan trọng trong nhiều lĩnh vực. Mạng Ad hoc, đặc biệt là mạng cảm biến không dây (WSN), đang thu hút nhiều sự quan tâm. Luận văn ThS này tập trung vào định tuyến trong mạng không dây địa hình xấu, một vấn đề phức tạp do nhiều yếu tố như địa hình, năng lượng hạn chế và tính di động của các nút. WSN bao gồm các bộ cảm biến tự trị phân tán để giám sát các điều kiện môi trường như nhiệt độ, âm thanh, và áp suất. Ứng dụng của WSN rất đa dạng, từ quân sự đến dân sự, bao gồm giám sát môi trường, theo dõi sức khỏe và điều khiển giao thông. Tuy nhiên, việc triển khai WSN trong địa hình xấu đặt ra nhiều thách thức về định tuyến hiệu quảtiết kiệm năng lượng. Các giải pháp định tuyến truyền thống có thể không phù hợp, đòi hỏi các thuật toán và giao thức định tuyến đặc biệt để đảm bảo hiệu suất và độ tin cậy của mạng. Theo Ngô Hồng Sơn (2010), việc định tuyến hiệu quả trong mạng không dây địa hình xấu là yếu tố then chốt để khai thác tối đa tiềm năng của công nghệ WSN.

Mạng Ad hoc là một mạng vô tuyến phi tập trung, không dựa trên cơ sở hạ tầng sẵn có. Mỗi nút tham gia vào việc định tuyến bằng cách chuyển tiếp dữ liệu tới các nút khác, xác định động các nút chuyển tiếp. Mạng Ad hoc phù hợp với nhiều ứng dụng mà các nút trung tâm không thể đáp ứng, như truyền thông tạm thời, hỗ trợ thiên tai và truyền thông ở vùng sâu vùng xa. Các yêu cầu kỹ thuật của mạng Ad hoc bao gồm tài nguyên của nút (năng lượng, công suất phát, tính toán, bộ nhớ) và thuộc tính liên kết (nhiễu, méo, độ dài liên kết). Mạng cảm biến vô tuyến (WSN) là một loại mạng Ad hoc, bao gồm các bộ cảm biến tự trị phân tán để theo dõi các điều kiện môi trường. Các nút cảm biến thường nhỏ gọn, giá thành thấp và có số lượng lớn, phân bố không hệ thống trên diện tích rộng, sử dụng nguồn năng lượng hạn chế và có thể hoạt động trong môi trường khắc nghiệt.

Một nút cảm biến bao gồm các thành phần cơ bản như đơn vị cảm biến, đơn vị xử lý, đơn vị truyền dẫn và bộ nguồn. Ngoài ra, có thể có thêm hệ thống định vị, bộ phát nguồn và bộ phận di động. Các đơn vị cảm biến chuyển đổi tín hiệu tương tự thành tín hiệu số, sau đó được đưa vào bộ xử lý. Phần thu phát vô tuyến kết nối các nút vào mạng. Bộ nguồn là một trong những phần quan trọng nhất, thường được hỗ trợ bởi các bộ phận lọc như tế bào năng lượng mặt trời. Các đặc tính của mạng cảm biến vô tuyến bao gồm khả năng chịu lỗi, khả năng mở rộng, giá thành sản xuất thấp, ràng buộc về phần cứng và môi trường hoạt động khắc nghiệt. Các nút cảm biến cần phải tiêu thụ rất ít năng lượng, hoạt động ở mật độ cao, có giá thành thấp, có thể tự hoạt động và thích biến với sự biến đổi của môi trường.

1.1. Mạng Ad Hoc Ưu Điểm Ứng Dụng Thực Tế

Mạng Ad hoc có nhiều ứng dụng, đặc biệt khi cơ sở hạ tầng truyền thống không khả thi. Ứng dụng trong các lớp học, hội thảo và các cuộc họp ngắn hạn. Nó cũng hữu ích khi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn và dịch họa, khi cơ sở hạ tầng bị phá hủy. Ở những nơi xa trung tâm, vùng sâu vùng xa, mạng Ad hoc cung cấp giải pháp truyền thông hiệu quả. So với mạng có cơ sở hạ tầng, mạng Ad hoc có thể hiệu quả hơn trong một số ứng dụng cụ thể, vì các nút có thể trực tiếp truyền thông với nhau mà không cần thông qua điểm truy cập trung tâm, giúp tiết kiệm thời gian và băng thông mạng. Mạng Ad hoc có thể được chia lớp cụ thể hơn theo ứng dụng, bao gồm mạng ad hoc di động (MANETs), mạng vô tuyến lưới (wireless mesh networks)mạng cảm biến vô tuyến (wireless sensor networks).

1.2. Các Chuẩn Mạng Cảm Biến Không Dây WSN Phổ Biến

Do phạm vi ứng dụng rộng lớn của WSN, các công ty và phòng thí nghiệm thường phát triển giao thức riêng, phù hợp cho từng ứng dụng cụ thể. Một số chuẩn WSN được biết đến bao gồm hệ thống ALOHA, hệ thống PRNET, PicoRadio, MicroAMPS, MANET và Zigbee. Zigbee dựa trên lớp vật lý và MAC của chuẩn WPAN 802. Một chuẩn mới đang được nghiên cứu là WirelessHART, một chuẩn mở có thêm tính năng đồng bộ thời gian ở lớp 2. Bên cạnh đó, DASH7, chuẩn của ISO, cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Hầu hết các mạng WSN đều hoạt động ở tầm tần số ISM 2.4 Ghz, trừ DASH7.

1.3. Tiêu Chí Thiết Kế Mạng Cảm Biến Vô Tuyến Tiết Kiệm Năng Lượng

Do giới hạn về nguồn năng lượng cung cấp (pin), giá thành và yêu cầu hoạt động trong một thời gian dài, vấn đề tiêu thụ năng lượng là tiêu chí thiết kế quan trọng nhất trong mạng cảm biến. Các lớp vật lý cần đơn giản và gọn nhẹ. Kỹ thuật điều chế tín hiệu số O-QPSK và FSK cải thiện hiệu suất bộ khuếch đại công suất. Kỹ thuật trải phổ được sử dụng để cải thiện SNR ở thiết bị thu và giảm tác động của fading của kênh truyền. Ở lớp MAC, kỹ thuật đa truy cập TDMA hoặc CSMA-CA hiệu chỉnh với mục đích giảm năng lượng tiêu thụ. Lớp định tuyến cần "nhận biết năng lượng" và sử dụng định tuyến địa lý. Các WSN đòi hỏi một hình trạng mạng linh động (ad-hoc, grid, star) và các nút mạng có khả năng tự điều chỉnh, tự cấu hình. Việc cluster hóa giúp ổn định hình trạng của mạng, đơn giản hóa giải thuật định tuyến, giảm đụng độ khi truy cập vào kênh truyền và đơn giản hóa việc quản lý mạng.

II. Thách Thức Định Tuyến Mạng Không Dây Địa Hình Phân Tích

Việc định tuyến trong mạng cảm biến không dây (WSN) có thể được chia thành định tuyến phẳng (flat-based), phân cấp (hierarchical-based)dựa trên vị trí (location-based), tùy thuộc vào cấu trúc của mạng. Trong định tuyến phẳng, mọi nút thường được gán vai trò như nhau. Trong định tuyến phân cấp, các nút sẽ thực hiện các vai trò khác nhau. Trong định tuyến dựa trên vị trí, vị trí của các nút cảm biến được khai thác để định tuyến dữ liệu. Hơn nữa, các giao thức định tuyến này có thể được chia lớp thành các loại như đa đường, theo yêu cầu, thỏa thuận, chất lượng dịch vụ (QoS) hoặc chặt chẽ, tùy thuộc vào hoạt động của giao thức. Thêm vào đó, các giao thức định tuyến có thể được chia thành ba loại là proactive, reactive và hybrid, tùy thuộc vào cách nút nguồn tìm ra đường tới đích. Khi mọi nút cảm biến là tĩnh, việc sử dụng các giao thức định tuyến điều khiển bằng bảng sẽ dễ dàng hơn là sử dụng các giao thức phản ứng. Một lượng lớn năng lượng được sử dụng trong việc phát hiện và thiết lập đường đi của các giao thức phản ứng. Các lớp giao thức định tuyến khác được gọi là các giao thức định tuyến cộng tác (cooperative). Trong việc định tuyến cộng tác, các nút gửi dữ liệu tới một nút trung tâm nơi mà dữ liệu có thể được kết tập lại và có thể được đưa tới việc xử lý cao hơn, do đó chi phí định tuyến sẽ giảm và việc sử dụng năng lượng cũng giảm.

2.1. Giao Thức Định Tuyến Dựa Trên Cấu Trúc Mạng

Kiến trúc phẳng có một vài lợi ích bao gồm số lượng mào đầu tối thiểu để duy trì cơ sở hạ tầng, và có khả năng khám phá ra nhiều đường giữa các nút truyền dẫn để chống lại lỗi. Đối với kiến trúc thứ hai là kiến trúc phân cấp theo cụm, lợi dụng cấu trúc của mạng để đạt được hiệu quả về năng lượng, sự ổn định, sự mở rộng. Trong loại giao thức này các nút mạng tự tổ chức thành các cụm trong đó một nút có mức năng lượng cao hơn các nút khác và đóng vai trò là nút chủ. Nút chủ thực hiện phối hợp hoạt động trong cụm và chuyển tiếp thông tin giữa các cụm với nhau. Việc tạo thành các cụm có khả năng làm giảm tiêu thụ năng lượng và tăng thời gian sống của mạng. Còn loại kiến trúc thứ ba sử dụng phương pháp trung tâm dữ liệu nhằm phân bố yêu cầu (interest) bên trong mạng. Phương pháp này sử dụng thuộc tính dựa trên tên do đó một nút nguồn truy vấn một thuộc tính của sự kiện/hiện tượng hơn là một nút riêng lẻ. Một giao thức khác có thể truyền sự quan tâm tới các nút bao gồm quảng bá, các thuộc tính dựa trên mutilcasting, geo-casting. Loại giao thức thứ tư là dựa vào vị trí để đánh địa chỉ cho các nút cảm biến. Loại giao thức này rất có ích cho những ứng dụng nơi mà vị trí của các nút cảm biến trong vùng địa lý được bao phủ bởi mạng liên quan đến truy vấn được đưa ra bởi nút nguồn.

2.2. Giao Thức Trung Tâm Dữ Liệu Flooding Gossiping

Flooding là kỹ thuật chung thường được sử dụng để tìm ra đường và truyền thông tin trong mạng adhoc vô tuyến và hữu tuyến. Chiến lược định tuyến này rất đơn giản và không phụ thuộc vào cấu hình mạng và các giải thuật định tuyến phức tạp. Phát tràn sử dụng phương pháp reactive nhờ đó mỗi nút nhận dữ liệu hoặc điều khiển dữ liệu để gửi các gói tới các nút lân cận. Sau khi truyền, một gói sẽ được truyền trên tất cả các đường có thể. Giải thuật này có 3 nhược điểm lớn: hiện tượng bản tin kép, hiện tượng chồng chéo và không quan tâm đến vấn đề năng lượng. Một sự cải tiến của giao thức này là Gossiping, thuật toán này cải tiến ở chỗ mỗi nút sẽ ngẫu nhiên gửi gói mà nó nhận được đến một trong các nút lân cận của nó. Thuật toán này làm giảm số lượng các gói lan truyền trong mạng, tránh hiện tượng bản tin kép tuy nhiên có nhược điểm là có thể gói sẽ không bao giờ đến được đích.

2.3. So Sánh SPIN LEACH và Directed Diffusion

SPIN và Directed Diffusion ban đầu được sử dụng nhằm mục đích tiết kiệm năng lượng thông qua việc điều chỉnh dữ liệu và loại bỏ các dữ liệu dư thừa. Directed Diffusion đưa ra theo yêu cầu các truy vấn dữ liệu. SPIN quảng bá khả năng sẵn có về mặt dữ liệu của chúng. Tất cả các thông tin liên lạc trong Directed Diffusion là từ láng giềng tới láng giềng với mỗi nút có khả năng thực thi dữ liệu kết tập và đệm. Không cần phải duy trì một topo mạng toàn cục trong Directed Diffusion. So sánh giữa SPIN, LEACH và Directed Diffusion: Tối ưu đường đi (SPIN: Không, LEACH: Không, Directed Diffusion: Có). Thời gian sống của mạng (SPIN: Tốt, LEACH: Rất tốt, Directed Diffusion: Tốt). Nhận biết tài nguyên (SPIN: Có, LEACH: Có, Directed Diffusion: Có). Sử dụng siêu dữ liệu (SPIN: Có, LEACH: Không, Directed Diffusion: Có).

III. Thuật Toán Định Tuyến Mạng Địa Hình Xấu MST SPT

Mạng cảm biến được xem như một đồ thị vô hướng G = (V, E), với V là tập đỉnh (các nút cảm biến) và E là tập cạnh (liên kết giữa các nút) của đồ thị. Một cây lan tỏa (ST – Spanning Tree) là một đồ thị con GST = (V, EST) của đồ thị G. EST là tập con của E, do vậy GST là cây mà chứa tất cả các đỉnh. Với đồ thị G = (V, E), một cây lan tỏa tối thiểu (MST – Minimum Spanning Tree) là một đồ thị con GMST = (V, EMST), với EMST là tập con của E, do đó GMST là một cây lan tỏa mà tối thiểu hóa tổng trọng số của GST. Với đồ thị G =(V, E) một cây đường đi ngắn nhất (SPT – Shortest Path Tree) là một đồ thị con GSPT=(V, ESPT), với ESPT là một tập con của E, do đó đồ thị con GSPT là một cây lan tỏa mà tối thiểu hóa trọng số của mọi đường đi từ một nút tới sink trong GSPT.

3.1. Thuật Toán Prim Tạo Cây Lan Tỏa Tối Thiểu

Thuật toán Prim là một giải thuật tham lam để tìm MST. Thuật toán bắt đầu với một tập hợp các đỉnh và liên tục thêm các cạnh có trọng số nhỏ nhất để xây dựng MST. Độ phức tạp của thuật toán Prim là O(mn), nhưng có thể giảm xuống O(mlogn) hoặc O(m + nlogn) bằng cách sử dụng các vùng heap Fibonacci hay nhị phân. Về mặt bản chất đây là một giải thuật tham lam. Đầu vào: E : Tập cạnh của đồ thị V : Tập đỉnh w : Tập trọng số các cạnh Sink: nút nguồn Đầu ra: EMST : Các cạnh của cây lan tỏa tối thiểu.

3.2. Thuật Toán Dijkstra Tìm Đường Đi Ngắn Nhất

Thuật toán Dijkstra là một thuật toán cây đường đi ngắn nhất từ một nguồn đơn. Thuật toán được phát triển cho các đồ thị có hướng hay vô hướng, kết nối và có trọng số với trọng số là các giá trị không âm. Thuật toán bắt đầu với cây lan tỏa một phần mà ban đầu mới chỉ có một nút nguồn. Tại mỗi vòng lặp một nút được thêm vào cây hiện tại theo cách mà đường đi từ mọi nút tới nút sink được tối thiểu hóa. Độ phức tạp của thuật toán Dijkstra là O(mn), có thể giảm xuống O(m + nlogn) khi hiệu chỉnh thuật toán. Đầu vào: E : Tập các cạnh của đồ thị V : Tập các đỉnh w : Tập trọng số của các cạnh Sink: Nút nguồn Đầu ra: ESPT : Các cạnh của cây lan tỏa tối thiểu.

3.3. Thuật Toán Ford Bellman Hỗ Trợ Trọng Số Âm

Thuật toán Ford-Bellman là một thuật toán đường đi ngắn nhất từ một nút nguồn đơn, có thể áp dụng cho nhiều trường hợp thực tế hơn thuật toán Dijkstra. Điểm mở rộng cơ bản của thuật toán Bellman-Ford là nó có thể làm việc với các đồ thị mà có chứa các cạnh với trọng số âm. Thuật toán gán cho mỗi nút một đường đi ngắn nhất tới nút nguồn. Độ phức tạp của thuật toán là O(mn). Đầu vào: E: Tập các cạnh của đồ thị V: Tập các đỉnh của đồ thị W: Tập các trọng số của cạnh Sink: nút nguồn N: Số nút trong đồ thị Đầu ra: ESPT: Các cạnh của cây lan tỏa tối thiểu.

IV. Định Tuyến Nhận Biết Năng Lượng Tối Ưu Hóa Tuổi Thọ Mạng

Mục tiêu của giao thức định tuyến nhận biết năng lượng là nhằm tăng thời gian sống cho toàn mạng. Mặc dù giao thức này tương tự như Directed Diffusion, nó cũng có khác biệt theo nghĩa là nó duy trì một tập hợp các đường đi thay vì duy trì hoặc thực thi một trong những con đường tối ưu ở mức cao. Những con đường được duy trì và được lựa chọn theo một xác suất nhất định. Giá trị của xác suất này phụ thuộc vào việc tiêu thụ năng lượng thấp của mỗi con đường có thể đạt được. Bởi có những con đường lựa chọn tại thời điểm khác nhau, năng lượng của bất kỳ con đường duy nhất nào cũng sẽ không bị cạn kiệt nhanh chóng. Việc sống còn của mạng là thước đo chính của giao thức này. Các giao thức khởi tạo một kết nối thông qua việc phát tràn cục bộ hóa, được sử dụng để khám phá tất cả các đường đi giữa cặp nguồn/đích và chi phí của chúng, từ đó xây dựng nên các bảng định tuyến. Các đường đi với chi phí cao bị bỏ đi và một bảng chuyển tiếp được xây dựng bằng cách chọn các nút lân cận theo cách tỷ lệ thuận với chi phí của chúng. Sau đó, các bảng chuyển tiếp được sử dụng để gửi dữ liệu đến đích với một xác suất đó là tỷ lệ nghịch với chi phí nút.

4.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Thời Gian Sống Của Mạng

Việc đảm bảo thời gian sống của mạng ở mức cao nhất có thể là bài toán NP-complete. Một vài sự kiện liên quan đến giới hạn về thời gian sống của mạng: Thời gian cho đến khi nút đầu tiên bị lỗi. Thời gian cho đến khi có một điểm mà không bao phủ được bởi mạng nữa (bị mất bao phủ, do mạng bị nới rộng ra). Thời gian cho đến khi mạng phân vùng (khi có hai nút trở lên không thể truyền thông lâu hơn với nhau).

4.2. Lựa Chọn Đường Đi Dựa Trên Lượng Pin Còn Lại

Khi vấn đề cung cấp năng lượng hữu hạn từ pin là yếu tố hạn chế đến thời gian sống mạng, nó cần phải sử dụng thông tin về tình trạng pin trong các quyết định định tuyến. Có một số khả năng sau: Tối đa hóa tổng dung lượng pin còn lại. Tối thiểu hóa chi phí về năng lượng để định tuyến (Minimum Battery Cost Routing - MBCR). MBCR sẽ tìm trong các “sự miễn cưỡng” của các nút khi tham gia định tuyến. Sự miễn cưỡng này tăng lên khi pin ngày càng cạn. Định tuyến chi phí pin Tối đa – tối thiểu (Min–Max Battery Cost Routing - MMBCR). Để bảo vệ các nút yếu pin, có thể sử dụng mức nghịch đảo cao nhất của các nút dọc theo đường đi như chi phí của đường đi này. Định tuyến chi phí pin Tối đa – tối thiểu có điều kiện (Conditional Max– Min Battery Capacity Routing – CMMBCR). Đây là một tùy chọn cho phép sử dụng nút để định tuyến khi định mức pin đảm bảo yêu cầu.

V. Định Tuyến Địa Hình Xấu Mô Phỏng Đánh Giá Hiệu Năng

Chương 3 của luận văn đề cập đến việc mô phỏng và đánh giá hiệu năng của các thuật toán định tuyến trong địa hình xấu bằng cách sử dụng bộ mô phỏng mạng NS-2. Mô phỏng cho phép nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất của mạng trong điều kiện thực tế. NS-2 là một công cụ mô phỏng mạnh mẽ, cung cấp một môi trường để thử nghiệm các giao thức và thuật toán định tuyến. Nó cho phép đánh giá các chỉ số hiệu suất quan trọng như độ trễ, thông lượng và tiêu thụ năng lượng.

5.1. Tổng Quan Về Bộ Mô Phỏng Mạng NS 2

NS-2 là một bộ mô phỏng mạng dựa trên sự kiện rời rạc, được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu mạng. Nó hỗ trợ nhiều giao thức mạng và cung cấp các công cụ để phân tích hiệu suất mạng. NS-2 sử dụng hai ngôn ngữ lập trình: C++ cho các chức năng cốt lõi và OTcl cho cấu hình và điều khiển mô phỏng.

5.2. Mô Phỏng Mạng Cảm Biến Không Dây Trong Địa Hình Xấu

Việc mô phỏng mạng cảm biến không dây trong địa hình xấu đòi hỏi việc tạo ra một mô hình địa hình thực tế và cấu hình các nút cảm biến với các thông số phù hợp. Các yếu tố như địa hình, nhiễu và khả năng di chuyển của các nút cần được xem xét để đánh giá chính xác hiệu suất của các thuật toán định tuyến.

VI. Kết Luận Hướng Phát Triển Định Tuyến Mạng Không Dây

Luận văn ThS này đã trình bày tổng quan về các thuật toán định tuyến trong mạng không dây địa hình xấu, phân tích các thách thức và giới thiệu một số giải pháp. Các kết quả nghiên cứu có thể cung cấp một cơ sở cho việc phát triển các giao thức định tuyến hiệu quả hơn trong tương lai. Hướng phát triển có thể bao gồm việc tích hợp các thuật toán trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa định tuyến và nâng cao khả năng thích ứng của mạng.

6.1. Các Hướng Nghiên Cứu Tiềm Năng Trong Tương Lai

Các hướng nghiên cứu tiềm năng trong tương lai bao gồm việc phát triển các thuật toán định tuyến nhận biết ngữ cảnh, sử dụng các kỹ thuật học máy để dự đoán và thích ứng với các thay đổi trong môi trường mạng, và thiết kế các giao thức định tuyến bảo mật để bảo vệ mạng khỏi các cuộc tấn công.

6.2. Tích Hợp Trí Tuệ Nhân Tạo Vào Thuật Toán Định Tuyến

Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể được sử dụng để cải thiện hiệu suất của các thuật toán định tuyến bằng cách học từ dữ liệu và đưa ra các quyết định định tuyến thông minh. Các kỹ thuật học máy như học tăng cường và mạng nơ-ron có thể được áp dụng để xây dựng các hệ thống định tuyến thích ứng và tự học.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của luận văn đã giới thiệu khái quát về mạng vô tuyến cũng như mạng con của nó là mạng cảm biến vô tuyến (WSNs) và vấn đề định tuyến trong mạng WSN là vấn đề đáng quan tâm để định hướng cho việc nghiên cứu trong các chương tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 CHƢƠNG 2: ĐỊNH TUYẾN TRONG MẠNG CẢM BIẾN VÔ TUYẾN Nội dung chương bao gồm những phần chính sau: - Trình bày về các giao thức định tuyến trong mạng WSN - Trình bày về các thuật toán định tuyến trong mạng WSN 2. Giao thức định tuyến [5]-[6]-[10]-[13] Thông thường, việc định tuyến trong WSN có thể được chia thành định tuyến phẳng (flat-based), phân cấp (hierarchical-based), và dựa trên vị trí (location-based) phụ thuộc vào cấu trúc của mạng. Trong định tuyến phẳng, mọi nút thường được gán các vai trò hay chức năng như nhau.

Trong định tuyến phân cấp, các nút sẽ thực hiện các vai trò khác nhau trong mạng. Trong định tuyến dựa trên vị trí, các vị trí của các nút cảm biến được khai thác để định tuyến dữ liệu trong mạng. Hơn nữa, các giao thức định tuyến này có thể được chia lớp thành các loại như: đa đường (multipath-based), theo yêu cầu (query-based), thỏa thuận (negotiation-based), chất lượng dịch vụ (QoS-based), hay chặt chẽ (coherent-based routing techniques) phụ thuộc vào hoạt động của giao thức. Thêm vào đó, các giao thức định tuyến có thể được chia thành ba loại là proactive, reactive và hybrid phụ thuộc vào nút nguồn tìm ra đường tới đích như thế nào.

Trong các giao thức proactive, mọi đường đi được tính toán trước khi chúng thực sự được cần đến, trong khi đối với giao thức reactive, các đường đi được tính toán theo yêu cầu. Các giao thức hybrid sử dụng một tổ hợp ý tưởng của hai giao thức trên. Khi mọi nút cảm biến là tĩnh, việc sử dụng các giao thức định tuyến điều khiển bằng bảng sẽ dễ dàng hơn là sử dụng các giao thức phản ứng. Một lượng lớn năng lượng được sử dụng trong việc phát hiện và thiết lập đường đi của các giao thức phản ứng.

Các lớp giao thức định tuyến khác được gọi là các giao thức định tuyến cộng tác (cooperative). Trong việc định tuyến cộng tác, các nút gửi dữ liệu tới một nút trung tâm nơi mà dữ liệu có thể được kết tập lại và có thể được đưa tới việc xử lý cao hơn, do đó chi phí định tuyến sẽ giảm và việc sử dụng năng lượng cũng giảm. Nhiều giao thức khác trông cậy vào thông tin thời gian và thông tin vị trí. Hình dưới đây mô tả sự phân lớp các giao thức định tuyến trong mạng cảm biến vô tuyến.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Các giao thức định tuyến trong mạng WSN Cấu trúc mạng Thao tác giao thức Định Định Định Định Định Định Định Định tuyến tuyến tuyến tuyến tuyến tuyến tuyến tuyến các các dựa dựa dựa dựa dựa dựa trên mạng mạng vào vị trên trên đa trên trên sự liên phẳng phân cấp trí sự đường truy QoS kết chặt điều vấn chẽ chỉnh Hình 5: Sự phân lớp các giao thức định tuyến trong mạng cảm biến vô tuyến Kiến trúc phẳng có một vài lợi ích bao gồm số lượng mào đầu tối thiểu để duy trì cơ sở hạ tầng, và có khả năng khám phá ra nhiều đường giữa các nút truyền dẫn để chống lại lỗi. Đối với kiến trúc thứ hai là kiến trúc phân cấp theo cụm, lợi dụng cấu trúc của mạng để đạt được hiệu quả về năng lượng, sự ổn định, sự mở rộng. Trong loại giao thức này các nút mạng tự tổ chức thành các cụm trong đó một nút có mức năng lượng cao hơn các nút khác và đóng vai trò là nút chủ. Nút chủ thực hiện phối hợp hoạt động trong cụm và chuyển tiếp thông tin giữa các cụm với nhau.

Việc tạo thành các cụm có khả năng làm giảm tiêu thụ năng lượng và tăng thời gian sống của mạng. Còn loại kiến trúc thứ ba sử dụng phương pháp trung tâm dữ liệu nhằm phân bố yêu cầu (interest) bên trong mạng. Phương pháp này sử dụng thuộc tính dựa trên tên do đó một nút nguồn truy vấn một thuộc tính của sự kiện/hiện tượng hơn là một nút riêng lẻ. Một giao thức khác có thể truyền sự quan tâm tới các nút bao gồm quảng bá, các thuộc tính dựa trên mutilcasting, geo-casting.

Loại giao thức thứ tư là dựa vào vị trí để đánh địa chỉ cho các nút cảm biến. Loại giao thức này rất có ích cho những ứng dụng nơi mà vị trí của các nút cảm biến trong vùng địa lý được bao phủ bởi mạng liên quan đến truy vấn được đưa ra bởi nút nguồn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các giao thức định tuyến dựa trên cấu trúc mạng [5]-[6] 2.

Định tuyến các mạng phẳng Loại giao thức định tuyến đầu tiên là các giao thức định tuyến phẳng multihop. Trong các mạng phẳng, thông thường mỗi nút đóng vai trò như nhau và các nút cảm biến cộng tác cùng với nhau để thực thi các tác vụ cảm nhận. Vì có rất nhiều nút cho nên không thể gán cho từng nút các định danh toàn cục, do vậy cần phải định tuyến theo trung tâm dữ liệu (data centric). Việc định tuyến này sử dụng trạm cơ sở (BS – base station) gửi yêu cầu tới các vùng xác định và chờ dữ liệu đến từ các cảm biến nằm trong vùng đã chọn đó.

Khi dữ liệu được yêu cầu thông qua các truy vấn, việc đặt tên theo thuộc tính rất cần thiết để xác định các thuộc tính của dữ liệu. Chúng ta sẽ xem xét một số giao thức và ưu điểm cũng như hiệu năng của chúng. Giao thức trung tâm dữ liệu: Flooding và Gossiping Flooding là kỹ thuật chung thường được sử dụng để tìm ra đường và truyền thông tin trong mạng adhoc vô tuyến và hữu tuyến. Chiến lược định tuyến này rất đơn giản và không phụ thuộc vào cấu hình mạng và các giải thuật định tuyến phức tạp.

Phát tràn sử dụng phương pháp reactive nhờ đó mỗi nút nhận dữ liệu hoặc điều khiển dữ liệu để gửi các gói tới các nút lân cận. Sau khi truyền, một gói sẽ được truyền trên tất cả các đường có thể. Trừ khi mạng bị ngắt không thì các gói sẽ truyền đến đích Hình 6: Các mô hình RandomWalk, Flooding, Gossiping Hơn nữa khi cấu hình mạng thay đổi các gói sẽ truyền theo những tuyến mới giải thuật này sẽ tạo ra vô hạn các bản sao của mỗi gói khi đi qua các nút. Giải thuật này có 3 nhược điểm lớn như sau: thứ nhất là hiện tượng bản tin kép.

Tức là các gói dữ liệu giống nhau được gửi đến cùng nút. Thứ hai là hiện tượng chồng chéo, tức là các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 nút cùng cảm nhận một vùng không gian và do đó tạo ra các gói tương tự nhau gửi đến các nút lân cận. Và thứ ba đó là thuật toán này không hề quan tâm đến vấn đề năng lượng của các nút, các nút sẽ nhanh chóng tiêu hao năng lượng và làm giảm thời gian sống của mạng. Một sự cải tiến của giao thức này là Gossiping, thuật toán này cải tiến ở chỗ mỗi nút sẽ ngẫu nhiên gửi gói mà nó nhận được đến một trong các nút lân cận của nó.

Thuật toán này làm giảm số lượng các gói lan truyền trong mạng, tránh hiện tượng bản tin kép tuy nhiên có nhược điểm là có thể gói sẽ không bao giờ đến được đích. Hai giao thức SPIN (Sensor Protocols for Information via Negotiation – Các giao thức cảm biến thông tin thông qua điều chỉnh) và DD (Directed Diffusion – Giao thức lan tỏa trực tiếp) ban đầu được sử dụng nhằm mục đích tiết kiệm năng lượng thông qua việc điều chỉnh dữ liệu và loại bỏ các dữ liệu dư thừa. Hai giao thức này sau đó được dùng để thiết kế nên nhiều giao thức khác nhưng vẫn đi theo mục đích đặt ra. Giao thức này giả định rằng tất cả các nút trong mạng cảm biến đều có khả năng làm trạm cơ sở.

Điều này cho phép việc sử dụng bất kỳ một nút nào có thể nhận được thông tin ngay lập tức. Các giao thức này sử dụng tài nguyên của các nút lân cận với dữ liệu tương tự, và do đó cần phải có chi phí để phân phối dữ liệu mà các nút khác không có. Họ SPIN sử dụng việc điều chỉnh dữ liệu và các thuật toán thích ứng tài nguyên. Các nút chạy SPIN phân công một tên mức cao để mô tả một cách hoàn chỉnh dữ liệu thu được của chúng (gọi là siêu dữ liệu (meta-data)) và thực hiện các việc điều chỉnh siêu dữ liệu trước khi dữ liệu bất kỳ được truyền đi.

Điều này đảm bảo rằng không có dư thừa dữ liệu được gửi qua mạng. Ngữ nghĩa của các định dạng siêu dữ liệu được các ứng dụng đặc tả và không được quy định tại SPIN. Ví dụ, các cảm biến có thể sử dụng ID duy nhất của chúng để báo cáo siêu dữ liệu nếu chúng bao phủ một khu vực nhất định đã biết. Ngoài ra, SPIN có thể truy cập vào các mức năng lượng hiện hành của nút và thích nghi với các giao thức nó hoạt động dựa trên lượng năng lượng còn lại.

Những giao thức này làm việc theo cả cách sử dụng bảng điều khiển và phân phối thông tin trên mạng, ngay cả khi người sử dụng không yêu cầu bất kỳ dữ liệu nào. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 Họ SPIN được thiết kế để giải quyết các thiếu sót của việc phát tràn bằng cách điều chỉnh và thích ứng tài nguyên. Họ các giao thức SPIN được thiết kế dựa trên hai ý tưởng cơ bản: - Các nút cảm biến hoạt động hiệu quả hơn và bảo tồn năng lượng bằng cách gửi dữ liệu mô tả các dữ liệu cảm biến thay vì gửi tất cả dữ liệu, chẳng hạn, các nút hình ảnh và các nút cảm biến phải theo dõi những thay đổi trong các nguồn năng lượng của chúng. - Các giao thức thông thường như phát tràn hoặc dựa trên giao thức định tuyến gossiping lãng phí năng lượng và băng thông khi gửi các bản sao không cần thiết của dữ liệu khi các bộ cảm biến bao phủ các khu vực chồng chéo.

Những bất lợi của việc phát tràn bao gồm sự suy sụp, đó là do các bản sao của thông điệp được gửi tới cùng một nút, sự chồng chéo xảy ra khi hai nút cảm biến cùng một vùng sẽ gửi gói tin tương tự tới cùng một nút hàng xóm, và tài nguyên bị tiêu tốn do việc tiêu thụ một lượng lớn năng lượng mà không cần xem xét các ràng buộc về năng lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ