Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ toán học của tác giả Phạm Ngọc Hoa, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH. Hà Huy Khoái và TS. Vũ Hoài An tại Khoa Toán, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, mang tiêu đề: "Một số dạng của định lý Ritt và ứng dụng vào vấn đề duy nhất". Luận án tập trung nghiên cứu sự mở rộng hai định lý cổ điển của Ritt từ lớp đa thức sang lớp hàm phân hình và áp dụng vào lý thuyết xác định duy nhất hàm phân hình, đa thức vi phân, đa thức sai phân và đa thức q-sai phân trong giải tích phức và giải tích không-Acsimet ($p$-adic).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Định lý cơ bản của số học khẳng định mọi số nguyên $n \ge 2$ đều được biểu diễn duy nhất dưới dạng tích các thừa số nguyên tố $n = p_1^{m_1} \dots p_k^{m_k}$. Năm 1922, J. F. Ritt là người đầu tiên thiết lập các kết quả tương tự cho đại số đa thức thông qua hai định lý nổi tiếng về phân tích đa thức thành tích các đa thức không phân tích được và nghiệm của phương trình đa thức $a(b) = c(d)$ với bậc nguyên tố cùng nhau.

Phương trình đa thức Ritt nghiên cứu là trường hợp riêng của phương trình hàm $P(f) = Q(g)$, trong đó $P, Q$ là các đa thức và $f, g$ là các hàm phân hình. Phương trình hàm này có mối liên hệ trực tiếp với bài toán xác định duy nhất đối với hàm phân hình — một hướng ứng dụng trọng tâm của lý thuyết phân bố giá trị Nevanlinna. Mặc dù lý thuyết xác định duy nhất cho hàm phân hình và đa thức vi phân đã được nghiên cứu từ các công trình kinh điển của R. Nevanlinna, W. Hayman, C. C. Yang, I. Lahiri, song phần lớn các chứng minh trước đây của Ritt sử dụng triệt để giả thiết "tính hữu hạn không điểm" của đa thức, khiến cho việc chuyển trực tiếp các định lý của Ritt sang lớp hàm phân hình (vốn có vô hạn không điểm và cực điểm) gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, trong giải tích không-Acsimet, bài toán xác định duy nhất cho các toán tử vi phân phức tạp, tích sai phân và $q$-sai phân vẫn còn nhiều điều kiện số mũ cần được tối ưu và hoàn thiện.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Thiết lập một số định lý tương tự hai định lý của Ritt đối với hàm phân hình và đa thức vi phân, đa thức sai phân, đa thức $q$-sai phân trong trường hợp phức và trường hợp $p$-adic.
  2. Tiếp cận vấn đề xác định hàm và vấn đề duy nhất đối với hàm phân hình, đa thức vi phân, đa thức sai phân, đa thức $q$-sai phân trong trường hợp phức và trường hợp $p$-adic dưới góc độ của hai định lý Ritt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề xác định hàm phân hình và các toán tử vi phân, sai phân, $q$-sai phân; vấn đề tập xác định duy nhất (URSM, SUPM, Bi-URSM) của hàm phân hình và đa thức vi phân.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian giải tích phức $\mathbb{C}$ và trường không-Acsimet $K$ (trường đóng đại số đặc số 0, đầy đủ đối với một giá trị tuyệt đối không-Acsimet).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống tài liệu và các giai đoạn phát triển của lý thuyết xác định duy nhất cùng lý thuyết phân tích đa thức Ritt:

Hướng nghiên cứu / Tác giả Công trình / Năm Nội dung chính
J. F. Ritt [46] (1922) Chứng minh hai định lý Ritt về sự phân tích duy nhất của đa thức và cấu trúc nghiệm phương trình $a \circ b = c \circ d$.
R. Nevanlinna 1926 Khởi xướng lý thuyết xác định duy nhất với Định lý 5 điểm (không tính bội, $f=g$) và Định lý 4 điểm (tính cả bội, $g=(af+b)/(cf+d)$).
W. Hayman [21] (1967) Khởi xướng hướng nghiên cứu đa thức vi phân; đưa ra Giả thuyết Hayman cho hàm nguyên thỏa mãn $f^n f' \ne 1$.
Yang - Hua [51] Chứng minh tính duy nhất khi $f^n f'$ và $g^n g'$ cùng nhận giá trị $a$ tính cả bội với $n \ge 11$.
Bhoosnurmath - Dyavanal, Fang, Zhang - Lin [10], [18], [54] Nghiên cứu đa thức vi phân dạng $(f^n)^{(k)}$, $[f^n(f-1)]^{(k)}$, $[f^n(af^m+b)]^{(k)}$.
I. Lahiri, C. Fang [36] (1997), [17] (2002) Mở rộng cho đa thức vi phân phi tuyến $f^{(n)}(f-1)^2 f'$ nhận giá trị 1 tính cả bội với $n \ge 13$.
I. Laine - P. C. Yang, K. Liu [37], [45] Nghiên cứu phân bố giá trị tích sai phân và tích vi-sai phân $f(z)^{(n)}f(z+c)$ cho hàm nguyên/phân hình.
F. Pakovich, Đinh Tiến Cường [43] (2007), [13], [14], [44] Xuất phát từ định lý thứ hai của Ritt xét ảnh ngược của tập compact đối với đa thức $f_1^{-1}(K_1) = f_2^{-1}(K_2)$.
Hu - Yang, Khoái - An - Lai [23], [30], [31] Nghiên cứu trên trường không-Acsimet: tập xác định 10 phần tử; $(f^n)^{(k)}$ nhận 1 tính cả bội với $n \ge 3k + 8$.
Vũ Hoài An, Hà Huy Khoái, Boussaf, Escassut, Ojeda [4], [6], [11], [28] Nghiên cứu các toán tử vi phân và $q$-sai phân trên trường $p$-adic.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án giải quyết khó khăn khi áp dụng phương pháp của Ritt cho hàm phân hình bằng cách xây dựng cách tiếp cận mới thông qua định lý kiểu Ritt thứ hai cho phương trình hàm đa thức thuần nhất hai biến kiểu Fermat-Waring; giảm cận bậc số mũ $n$ cho các toán tử vi phân phức và $p$-adic; giải quyết bài toán xác định duy nhất cho các cấu trúc tích $q$-sai phân $f^n(z)f^m(qz+c)$ và toán tử vi phân kết hợp $q$-sai phân $(f^{nm}(z)f^{nd}(qz+c))^{(k)}$ trên trường không-Acsimet.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm

Luận án sử dụng bộ công cụ toán học của Lý thuyết Nevanlinna trên trường số phức $\mathbb{C}$ và trên trường không-Acsimet $K$:

  • Các đại lượng Nevanlinna:
    • Hàm đếm cực điểm $N(r, f)$ và hàm đếm rút gọn $N_1(r, f)$ (hoặc $\overline{N}(r, f)$).
    • Hàm đếm có chặn bội $N_{m)}(r, 1/(f-a))$ (đếm không điểm có bội $\le m$) và $N_{(m}(r, 1/(f-a))$ (đếm không điểm có bội $\ge m$).
    • Hàm xấp xỉ $m(r, f)$ và hàm đặc trưng Nevanlinna $T(r, f) = m(r, f) + N(r, f)$.
  • Khái niệm tập chia sẻ giá trị:
    • $E_f(S) = E_g(S)$: hai hàm $f, g$ nhận tập $S$ tính cả bội (CM - Counting Multiplicities).
    • $\overline{E}_f(S) = \overline{E}_g(S)$: hai hàm $f, g$ nhận tập $S$ không tính bội (IM - Ignoring Multiplicities).
    • $E_{f, m)}(S) = E_{g, m)}(S)$: nhận tập $S$ với bội bị chặn bởi $m$.
  • Các lớp tập xác định duy nhất: UPM (đa thức duy nhất), SUPM (đa thức duy nhất mạnh), URSM (tập xác định duy nhất cho hàm phân hình), URSE (cho hàm nguyên), Bi-URSM (cặp tập xác định duy nhất).
  • Đa thức kiểu Fermat-Waring hai biến: $P(z_1, z_2) = c z_1^n + d z_1^{n-m} z_2^m + e z_2^n$.

Phương pháp nghiên cứu

  • Sử dụng Định lý cơ bản thứ hai của lý thuyết Nevanlinna (Second Main Theorem) và Bổ đề đạo hàm logarit $m(r, f^{(k)}/f) = S(r, f)$ trong trường phức và trường không-Acsimet.
  • Sử dụng các bổ đề kiểu Borel về sự phụ thuộc tuyến tính của các hàm nguyên/phân hình thỏa mãn phương trình tổng lũy thừa dạng $\sum a_i f_i^d = 0$.
  • Chuyển đổi bài toán xác định hàm và tính duy nhất về việc giải phương trình hàm dạng $P(f_1, f_2) = Q(g_1, g_2)$ tương tự định lý thứ hai của Ritt.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Luận án kế thừa và phát triển trực tiếp từ các bài báo khoa học đã công bố của nhóm tác giả (Phạm Ngọc Hoa, Vũ Hoài An, Hà Huy Khoái) trên các tạp chí chuyên ngành (như các tài liệu trích dẫn [4], [5], [6], [7], [22], [29]), đồng thời được báo cáo và hoàn thiện qua các hội nghị toán học quốc tế và trong nước (Hội thảo quốc tế Giải tích phức lần 20 tại Hà Nội 2012; Hội nghị Toán học Việt-Pháp tại Huế 2012; Đại hội Toán học Việt Nam lần 8 tại Nha Trang 2013; Hội nghị Đại số - Hình học - Topo tại Buôn Ma Thuột 2016).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Hai định lý của Ritt và vấn đề duy nhất đối với đa thức vi phân của hàm phân hình

Chương 1 nghiên cứu mở rộng hai định lý của Ritt cho lớp hàm phân hình phức và áp dụng thiết lập tập xác định duy nhất cho các đa thức vi phân.

Nội dung và kết quả toán học cốt lõi của Chương 1 gồm:

  • Định lý 1.2 (Định lý kiểu Ritt thứ hai cho hàm phân hình phức): Cho $n, m \in \mathbb{N}^*$ với $n \ge 2m + 9$, và giả thiết hoặc $m \ge 2, \gcd(m, n) = 1$ hoặc $m \ge 4$. Cho $c, d, e, u, v, t \in \mathbb{C} \setminus {0}$. Nếu các hàm nguyên $f_1, f_2, g_1, g_2$ thỏa mãn: $$c f_1^n + d f_1^{n-m} f_2^m + e f_2^n = u g_1^n + v g_1^{n-m} g_2^m + t g_2^n$$ thì $g_1 = h f_1, g_2 = l f_2$ với các hằng số $h, l$ thỏa mãn $h^n = c/u, h^{n-m}l^m = d/v, l^n = e/t$.
  • Định lý 1.5 (Định lý kiểu Ritt thứ nhất cho hàm phân hình phức): Cho các họ đa thức $P = {R_i(z) = z^n + a_i z^{n-m} + b_i}{i=1}^r$ và $Q = {D_j(z) = z^n + p_j z^{n-m} + q_j}{j=1}^s$ với $n \ge 2m + 4$, thỏa mãn điều kiện $m \ge 2, \gcd(n, m) = 1$ hoặc $m \ge 4$. Nếu $f, g$ là hai hàm phân hình không phân tích được tương ứng trên $Q$ và $P$, thỏa mãn: $$R_r \circ R_{r-1} \circ \dots \circ R_1 \circ f = D_s \circ D_{s-1} \circ \dots \circ D_1 \circ g$$ thì $r = s$ và tồn tại hằng số $l \ne 0$ sao cho $f = l g$.
  • Ứng dụng vào bài toán Bi-URSM và URSM:
    • Thiết lập Định lý 1.3 cho bài toán Bi-URSM đối với hai tập không điểm của đa thức kiểu Fermat-Waring $Y_{(a_i, b_i, m, n)}(x) = x^n + a_i x^{n-m} + b_i$.
    • Chứng minh sự tồn tại của tập xác định duy nhất $S$ (URSM) với đa thức chấp nhận được $P(x)$ khi thỏa mãn ba điều kiện liên kết ma trận $(B_1), (B_2), (B_3)$ và số mũ $n \ge (2q+3)^2, q \ge 1$.
  • Định lý 1.10 (Tập xác định duy nhất cho đa thức vi phân): Cho $f, g$ là hai hàm phân hình khác hằng trên $\mathbb{C}$, $P(x)$ là đa thức chấp nhận được bậc $n \ge (2q+3)^2, q \ge 1$ và $d \ge 3k + 5$. Nếu đa thức vi phân $(P^d(f))^{(k)}$ và $(P^d(g))^{(k)}$ cùng nhận giá trị 1 tính cả bội (CM), thì $f = g$.
  • Ví dụ tường minh: Xây dựng trường hợp cụ thể $n = 25, q = 1, d \ge 3k + 5$ với đa thức $P(z) = z^{25} + b^{25} + (cz+e)^{25}$ và $R(z) = z^{25} + (cz+e)^{25}$, kiểm chứng chi tiết các điều kiện định thức ma trận $A_\alpha, A_\beta$ qua 5 trường hợp để khẳng định tính đúng đắn của các giả thiết $(B_1), (B_2), (B_3)$.

Chương 2: Định lý thứ hai của Ritt và vấn đề duy nhất của đa thức vi phân trên một trường không-Acsimet

Chương 2 chuyển hướng nghiên cứu sang giải tích $p$-adic trên trường đóng đại số $K$ đặc số 0, đầy đủ theo giá trị tuyệt đối không-Acsimet $|\cdot|$.

  • Mở rộng định lý kiểu Ritt thứ hai trên trường không-Acsimet: Xét phương trình hàm $P(f) = c Q(g)$ với $P(z), Q(z)$ là các đa thức bậc $d$ kiểu Fermat-Waring trong $K[z]$. Luận án chứng minh rằng nếu $d \ge 2m + 3$ với $m \ge 3$ hoặc $\gcd(d, m) = 1, m \ge 2$, thì mọi nghiệm phân hình khác hằng $(f, g)$ đều dẫn tới $g = hf$ với $h \in K$ thỏa mãn $h^d = 1/c, h^m = a_1/a_2$.
  • Định lý 2.7 (Xác định duy nhất cho toán tử vi phân trên trường $K$): Cho $P, Q$ là các đa thức kiểu Fermat-Waring và xét các toán tử vi phân $(P^n(f))^{(k)}$ và $(Q^n(g))^{(k)}$. Kết quả chứng minh rằng điều kiện để xác định duy nhất hàm phân hình trên trường không-Acsimet là: $$n \ge 3k + 5$$ Điều này cải tiến trực tiếp cận số mũ $n \ge 3k + 8$ trong kết quả trước đó của Hà Huy Khoái, Vũ Hoài An và L. V. Lai ([31]).
  • Giải quyết câu hỏi về ảnh ngược của F. Pakovich: Định lý 2.10 trong chương này giải quyết trọn vẹn câu hỏi do F. Pakovich ([43], [44]) đặt ra trong bối cảnh trường $p$-adic: khi $S, T$ là các tập không điểm của $P(z), Q(z)$ thỏa mãn $E_f(S) = E_g(T)$, luận án đưa ra các điều kiện đại số chuẩn xác để suy ra mối quan hệ đồng nhất giữa hai hàm $f$ và $g$.
  • Định lý 2.2: Thiết lập định lý kiểu Ritt thứ hai cho một vectơ các hàm nguyên $p$-adic và suy ra tính duy nhất của đa thức vi phân nhiều biến trên trường không-Acsimet.

Chương 3: Định lý thứ hai của Ritt và vấn đề duy nhất đối với tích q-sai phân, đa thức vi phân của hàm phân hình trên một trường không-Acsimet

Chương 3 giải quyết bài toán duy nhất đối với các cấu trúc sai phân và vi phân kết hợp trên trường $K$.

  • Đặc thù của giải tích $p$-adic đối với toán tử $q$-sai phân: Trong giải tích phức $\mathbb{C}$, mối liên hệ giữa hàm đặc trưng $T(r, f(z))$ và $T(r, f(qz+c))$ đối với lớp hàm phân hình tổng quát là rất khó thiết lập do sự tăng trưởng phức tạp của hàm phân hình trên các đường tròn bán kính lớn. Tuy nhiên, trên trường không-Acsimet $K$, nhờ tính chất siêu metric $|x+y| \le \max{|x|, |y|}$ và tính chất đặc thù của chuẩn $p$-adic $|f|_r = \max |a_n| r^n$, mối liên hệ này được thiết lập chặt chẽ.
  • Định lý 3.7 (Duy nhất cho tích $q$-sai phân): Nghiên cứu cấu trúc tích $q$-sai phân dạng: $$f^n(z) f^m(qz+c)$$ Luận án sử dụng các biến thể của Định lý chính thứ hai trên trường $p$-adic để xác lập điều kiện bậc của $n, m$ để khi hai tích $q$-sai phân chia sẻ một hàm nhỏ hoặc một tập giá trị thì suy ra quan hệ giữa $f$ và $g$.
  • Định lý 3.4 (Duy nhất cho toán tử vi phân kết hợp $q$-sai phân): Thiết lập kết quả xác định duy nhất đối với toán tử kết hợp đạo hàm cấp $k$ và tích $q$-sai phân có dạng: $$\left(f^{nm}(z) f^{nd}(qz+c)\right)^{(k)}$$ Kết quả khẳng định tính duy nhất của hàm phân hình $p$-adic khi toán tử trên nhận chung giá trị, mở rộng các kết quả trước đây của Vũ Hoài An, Phạm Ngọc Hoa và Hà Huy Khoái ([4], [6], [28]).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu các đóng góp học thuật mới về mặt lý thuyết giải tích hàm như sau:

  1. Cách tiếp cận lý thuyết mới: Đưa ra phương pháp tiếp cận mới đối với bài toán xác định hàm và bài toán duy nhất của hàm phân hình, đa thức vi phân và đa thức sai phân bằng cách xem xét chúng dưới góc độ của hai định lý Ritt.
  2. Mở rộng hai định lý Ritt: Thiết lập thành công các định lý tương tự Định lý thứ nhất và Định lý thứ hai của Ritt cho lớp hàm phân hình trên trường số phức $\mathbb{C}$ và trên trường không-Acsimet $K$, khắc phục trở ngại về tính vô hạn không điểm của hàm phân hình.
  3. Các kết quả mới về tập xác định duy nhất (URSM, Bi-URSM): Thiết lập các tiêu chuẩn xác định duy nhất cho hàm phân hình phức và đa thức vi phân $(P^d(f))^{(k)}$ khi chia sẻ giá trị 1 tính cả bội với cận $d \ge 3k + 5$ và $n \ge (2q+3)^2$.
  4. Cải tiến điều kiện số mũ trong trường không-Acsimet: Giảm điều kiện số mũ từ $n \ge 3k + 8$ (kết quả của Hà Huy Khoái - Vũ Hoài An - L. V. Lai) xuống còn $n \ge 3k + 5$ trong Định lý 2.7 về tính duy nhất của đa thức vi phân $p$-adic.
  5. Tiên phong thiết lập kết quả cho toán tử vi phân kết hợp $q$-sai phân $p$-adic: Thiết lập các định lý duy nhất cho tích $q$-sai phân $f^n(z)f^m(qz+c)$ và toán tử vi phân kết hợp $q$-sai phân $(f^{nm}(z)f^{nd}(qz+c))^{(k)}$ trên trường không-Acsimet.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và các giới hạn kỹ thuật được trình bày trong văn bản luận án:

  • Hạn chế kỹ thuật trên trường phức: Trong trường hợp tổng quát trên $\mathbb{C}$, hiện chưa có một mối liên hệ tối ưu trực tiếp giữa hàm đếm, hàm đặc trưng của $f$ với hàm đếm và hàm đặc trưng của toán tử vi phân $(P(f))^{(k)}$. Do đó, luận án phải thu hẹp khảo sát trên lớp đa thức vi phân dạng lũy thừa $(P^d(f))^{(k)}$.
  • Giới hạn đối với toán tử $q$-sai phân trên trường phức: Do mối quan hệ giữa $T(r, f(z))$ và $T(r, f(qz+c))$ chưa thể thiết lập tổng quát trong giải tích phức đối với hàm phân hình bất kỳ, các kết quả về toán tử vi phân kết hợp $q$-sai phân mới chỉ thực hiện được trọn vẹn trên trường không-Acsimet nhờ tính chất chuẩn $p$-adic.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục tìm kiếm các đánh giá giải tích để mở rộng bài toán vi phân - sai phân kết hợp sang trường số phức $\mathbb{C}$, đồng thời giảm thiểu hơn nữa các điều kiện số mũ đối với các toán tử vi phân đa biến.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo chuyên sâu, có giá trị học thuật đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Toán giải tích: Đặc biệt trong các phân môn Giải tích phức, Lý thuyết hàm, Lý thuyết phân bố giá trị Nevanlinna và Giải tích $p$-adic.
  • Các phần đáng tham khảo:
    • Kỹ thuật sử dụng bổ đề kiểu Borel để giải các phương trình hàm đại số phi tuyến liên quan đến định lý Ritt (Chương 1).
    • Phương pháp xây dựng tập xác định duy nhất URSM và Bi-URSM thông qua hệ điều kiện ma trận $(B_1), (B_2), (B_3)$.
    • Kỹ thuật tính toán hàm đặc trưng Nevanlinna trên trường không-Acsimet cho các toán tử $q$-sai phân và vi phân kết hợp (Chương 2 và Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải quyết khó khăn nào khi mở rộng hai định lý của Ritt cho hàm phân hình?

Trong chứng minh cổ điển năm 1922 của J. F. Ritt cho đa thức, tác giả sử dụng triệt để tính chất đa thức chỉ có hữu hạn không điểm. Đối với hàm phân hình, do hàm có thể có vô hạn không điểm và cực điểm, lập luận của Ritt không thể áp dụng trực tiếp. Luận án khắc phục điều này bằng cách chuyển bài toán về việc khảo sát phương trình hàm hai biến kiểu Fermat-Waring $P(f_1, f_2) = Q(g_1, g_2)$ thông qua Định lý cơ bản thứ hai và các bổ đề kiểu Borel của lý thuyết Nevanlinna.

2. Điều kiện số mũ trong Định lý 2.7 của luận án cải tiến kết quả trước đó của Khoái - An - Lai như thế nào?

Trong công trình [31], các tác giả Hà Huy Khoái, Vũ Hoài An và L. V. Lai nghiên cứu toán tử vi phân $(f^n)^{(k)}$ nhận giá trị 1 tính cả bội trên trường không-Acsimet và yêu cầu điều kiện bậc $n \ge 3k + 8$. Luận án (Định lý 2.7) đã mở rộng bài toán cho toán tử $(P^n(f))^{(k)}$ với $P$ là đa thức Fermat-Waring và làm giảm điều kiện số mũ xuống $n \ge 3k + 5$.

3. Tại sao các kết quả về toán tử vi phân kết hợp $q$-sai phân $(f^{nm}(z)f^{nd}(qz+c))^{(k)}$ chỉ được thiết lập trên trường không-Acsimet?

Vì trong trường số phức $\mathbb{C}$, mối liên hệ giữa hàm đặc trưng $T(r, f(z))$ và $T(r, f(qz+c))$ đối với hàm phân hình tổng quát chưa thể thiết lập được. Ngược lại, trên trường không-Acsimet $K$, tính chất siêu metric của chuẩn $p$-adic $|f|_r = \max |a_n|r^n$ cho phép thiết lập chính xác mối liên hệ đặc trưng này.

4. Tập xác định duy nhất URSM trong Chương 1 đòi hỏi những điều kiện cụ thể nào đối với đa thức $P(x)$?

Để tập các không điểm $S$ của đa thức $P(x)$ là một URSM cho hàm phân hình phức, đa thức $P(x)$ phải là đa thức chấp nhận được bậc $n \ge (2q+3)^2$ ($q \ge 1$), thỏa mãn ba điều kiện:

  • $(B_1)$: $P(x)$ chỉ có các không điểm đơn và $R(t_i) + b^n \ne 0$ với mọi không điểm $t_i$ của $P(x)$.
  • $(B_2)$: Tỷ số các hệ số $a_i / a_j \ne b_i / b_j$ với mọi $i \ne j$.
  • $(B_3)$: Các định thức ma trận liên kết $A_\alpha, A_\beta$ thỏa mãn $\frac{\det A_\alpha^n}{\det A_{\alpha'}^n} \ne \frac{\det A_\beta^n}{\det A_{\beta'}^n}$.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Ngọc Hoa là một công trình nghiên cứu lý thuyết chuyên sâu trong lĩnh vực giải tích phức và giải tích không-Acsimet. Bằng việc kết hợp hài hòa giữa lý thuyết phân bố giá trị Nevanlinna và lý thuyết phân tích đa thức Ritt, luận án đã thiết lập thành công các định lý mở rộng của Ritt cho hàm phân hình, đồng thời giải quyết nhiều bài toán xác định duy nhất đối với các lớp đa thức vi phân, tích sai phân và $q$-sai phân. Các kết quả đạt được không chỉ cải tiến các chặn số mũ kinh điển mà còn góp phần hoàn thiện bức tranh lý thuyết về phương trình hàm và tính duy nhất trên trường số phức cũng như trường $p$-adic.