Chương 1. Khái quát và quy định pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. ĐCGQVADS có vai trò quan trọng trong pháp luật Việt Nam, giúp tạo ra khung pháp lý chặt chẽ, minh bạch và đảm bảo công bằng trong xét xử. Tuy nhiên, việc áp dụng vẫn gặp khó khăn, cần được cải thiện và điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Bên cạnh những điểm tích cực và tiến bộ, quy định về ĐCGQVADS tại BLTTDS 2015 vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập, khó khăn khi áp dụng vào thực tế. Với mong muốn những quy định pháp luật về ĐCGQVADS trong BLTTDS 2015 có thể đưa vào áp dụng một cách khoa học, thống nhất và có hiệu quả, tác giả đã đưa ra những kiến nghị thông qua những nghiên cứu và khảo sát thực tế của luận văn này. KHÁI QUÁT VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 1.
Những vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 1.1 Khái niệm, đặc điểm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 1.1 Khái niệm về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự - Khái niệm vụ án dân sự: Trong cuộc sống xã hội, việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ dân sự là không thể thiếu, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam. Với sự mở cửa và tích cực tham gia vào thị trường quốc tế, cùng với sự phát triển vững mạnh của nền kinh tế thị trường, các mối quan hệ dân sự đang trải qua giai đoạn phát triển không ngừng. Tuy nhiên, trong quá trình này, không tránh khỏi sự xuất hiện của những mâu thuẫn và bất đồng giữa các bên, đặc biệt là khi những mâu thuẫn này ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân. Khi đối diện với các tranh chấp dân sự, các bên có nhiều lựa chọn để giải quyết vấn đề, từ thương lượng đến hòa giải, từ trọng tài đến việc khởi kiện tại Tòa án.
Trong số những phương thức này, việc khởi kiện ra Tòa án được coi là một biện pháp giải quyết mâu thuẫn mà được Cơ quan có thẩm quyền can thiệp và bảo đảm việc thi hành quyền lợi của các bên. Điều này giúp đảm bảo công bằng và sự minh bạch trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, góp phần vào sự ổn định và phát triển của xã hội. Theo Hiến pháp 2013, Nhà nước luôn bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân. Khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm đều có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục do pháp luật quy định để yêu cầu Tòa án bảo vệ.
Tòa án, với tư cách là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân1. Bằng các hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi phạm pháp luật khác2. Như vậy, khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm khởi kiện vụ án dân sự thì Tòa án có thẩm quyền phải thụ lý và giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Các vụ án phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết được gọi là vụ việc dân sự.
Trong đó, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự mà họ không thể thương lượng được gọi là vụ án dân sự. 1 Điều 102 Hiến pháp 2013 “1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. 2 Khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 “1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác”. 11 Theo Từ điển luật học, “Vụ án dân sự là việc phát sinh tại Tòa án, thuộc thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa án, do cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức xã hội khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, của tập thể hay của người khác”3. Thuật ngữ “vụ án” được sử dụng lần đầu tiên trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960: “Các Tòa án nhân dân là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tòa án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự.
Từ cơ sở pháp lý này các văn bản pháp luật chính thức sử dụng thuật ngữ “vụ án dân sự” như: Thông tư số 01/UB ngày 03 tháng 3 năm 1969 của TAND tối cao hướng dẫn việc viết bản án sơ thẩm và phúc thẩm hình sự và dân sự; Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 01 tháng 02 năm 1982 của TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về thủ tục tái thẩm. Trước khi BLTTDS được ban hành và có hiệu lực pháp luật, việc giải quyết các vụ việc dân sự được dựa trên quy định của ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng là: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994. Cả ba Pháp lệnh này đều sử dụng thuật ngữ “Vụ án dân sự”, “Vụ án kinh tế” và “Vụ án lao động”. Khái niệm vụ án dân sự được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 1 BLTTDS 2004 và được tiếp tục được kế thừa tại Điều 1 BLTTDS 2015, tùy vào tính chất, nội dung cụ thể của vụ việc là tranh chấp hay yêu cầu mà có thủ tục phù hợp.
Những vụ việc mà Tòa án phải giải quyết theo thủ tục tranh chấp được gọi là vụ án dân sự bao gồm: Những tranh chấp về dân sự, những tranh chấp về hôn nhân gia đình, những tranh chấp về kinh doanh, thương mại, những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án5. Theo đó, vụ án dân sự là những vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động6, theo quy định của BLTTDS thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, khái niệm vụ án dân sự được hiểu như sau: “Vụ án dân sự là những tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động khi cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và được Tòa án thụ lý, giải quyết”. - Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (1990), “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
4 Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, ban hành ngày 14/7/1960 “Các Toà án nhân dân là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Toà án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự để trừng trị những kẻ phạm tội và giải quyết những việc tranh chấp về dân sự trong nhân dân. Mục đích của việc xét xử là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và quyền lợi hợp pháp của nhân dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi. Trong mọi hoạt động của mình, Toà án nhân dân giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, với chế độ dân chủ nhân dân, tôn trọng tài sản công cộng, tự giác tuân theo pháp luật, kỷ luật lao động và quy tắc sinh hoạt xã hội.
Toà án nhân dân xử phạt về hình sự không những chỉ trừng trị phạm nhân mà còn nhằm giáo dục và cải tạo họ”. 5 Theo quy định tại các Điều 26, 28, 30, 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.Nguyễn Thị Hồng Nhung (Chủ biên) (2019), Trường Đại học Kinh tế Luật , “Giáo trình Luật tố tụng dân sự”, NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, tr.2, 12 Theo Từ điển Tiếng Việt thì đình chỉ là “ngừng lại hoặc phải làm cho ngừng lại trong một thời gian vĩnh viễn”7; theo Từ điển Luật học “Đình chỉ vụ án là việc Cơ quan tiến hành tố tụng quyết định kết thúc vụ án khi có những căn cử luật định”8. Trong tố tụng dân sự, thuật ngữ “Đình chỉ vụ án” cũng được dùng với nghĩa là đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Khái niệm ĐCGQVADS được các nhà khoa học Việt Nam đề cập trong nhiều tài liệu với những khía cạnh khác nhau. Cụ thể: Theo tác giả Tống Công Cường: “Đình chỉ giải quyết vụ án là chấm dứt tố tụng dân sự khi có những căn cứ nhất định mà không thông qua xét xử hay hòa giải”9. Quan điểm này cũng đã chỉ ra được hậu quả pháp lý của ĐCGQVADS là làm chấm dứt mọi hoạt động tố tụng.