Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu hướng khách quan, đòi hỏi Việt Nam phải liên tục củng cố và mở rộng quan hệ đối ngoại với các quốc gia, tổ chức quốc tế và các chủ thể khác của pháp luật quốc tế. Việc thiết lập các quan hệ này được hiện thực hóa chủ yếu thông qua hoạt động ký kết điều ước quốc tế (ĐƯQT) và thỏa thuận quốc tế (TTQT). Để tạo hành lang pháp lý, Nhà nước Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, khởi đầu từ Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1989 đến Luật Điều ước quốc tế năm 2016 (Luật ĐƯQT 2016), cũng như từ Pháp lệnh Ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế năm 2007 đến Luật Thỏa thuận quốc tế năm 2020 (Luật TTQT 2020).
Mặc dù cùng phục vụ hoạt động đối ngoại, ĐƯQT và TTQT có bản chất pháp lý, chủ thể ký kết, trình tự thủ tục và giá trị ràng buộc hoàn toàn khác biệt. Nhằm làm rõ sự khác biệt giữa hai loại văn bản, phòng ngừa việc áp dụng sai loại văn bản điều chỉnh và phân tích những bất cập thực tiễn trong công tác ký kết, thực hiện tại Việt Nam, khóa luận tốt nghiệp "Điều ước quốc tế và thoả thuận quốc tế theo pháp luật Việt Nam hiện hành" đã được tác giả Lê Thị Minh Anh thực hiện (người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Vân Huyền, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2023).
Khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Trình bày khái quát những kiến thức pháp lý cơ bản về ĐƯQT và TTQT.
- Nghiên cứu, so sánh để chỉ ra những điểm khác biệt trong quy định pháp luật Việt Nam về ĐƯQT so với TTQT.
- Phân tích thực trạng, thành tựu và những bất cập trong thực tiễn ký kết, thực hiện ĐƯQT và TTQT tại Việt Nam.
- Đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm khắc phục bất cập và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hai lĩnh vực này.
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến việc ký kết, thực hiện ĐƯQT và TTQT, bao gồm: khái niệm, giá trị pháp lý, nguyên tắc ký kết và thực hiện, thẩm quyền ký kết, nội dung, hình thức văn bản, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, căn cứ chấm dứt hiệu lực và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước liên quan.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Hệ thống pháp luật Việt Nam (trọng tâm là Luật ĐƯQT 2016 và Luật TTQT 2020) đặt trong sự đối chiếu với pháp luật quốc tế (trọng tâm là Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế, Công ước Viên năm 1986 và Hiến chương Liên hợp quốc).
- Thời gian: Xem xét quá trình phát triển của các văn bản pháp luật điều chỉnh từ quá khứ (Pháp lệnh 1989, Pháp lệnh 2007, Luật ĐƯQT 2005) đến giai đoạn áp dụng các luật hiện hành (2016–2023).
Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên nền tảng lý luận công pháp quốc tế và pháp luật quốc gia, kết hợp các văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu thực tiễn chuyên ngành:
- Văn bản pháp luật quốc tế: Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia; Công ước Viên năm 1986 về Luật Điều ước quốc tế giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế; Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 (Điều 102); Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
- Văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013; Luật ĐƯQT 2016; Luật TTQT 2020; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Luật Biển Việt Nam năm 2012; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị định số 64/2021/NĐ-CP; Nghị định số 80/2020/NĐ-CP; Thông tư số 105/2021/TT-BQP của Bộ Quốc phòng; Thông tư số 54/2021/TT-BCA của Bộ Công an.
- Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT năm 2005; Báo cáo số 5147/BC-BNG-LPQT tổng kết 10 năm thi hành Pháp lệnh TTQT năm 2007 của Bộ Ngoại giao; các nghiên cứu chuyên khảo và bài viết trên các tạp chí luật học (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Khoa học Pháp lý, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật).
Khóa luận vận dụng bốn phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp diễn giải: Đi từ các khái niệm, quy tắc chung của luật quốc tế và pháp luật thực định đến việc làm rõ từng vấn đề pháp lý chi tiết của ĐƯQT và TTQT.
- Phương pháp phân tích logic: Làm sáng tỏ bản chất pháp lý, tính tương thích, mối quan hệ phân cấp và giá trị ràng buộc của các loại văn kiện quốc tế.
- Phương pháp so sánh pháp lý: Được sử dụng xuyên suốt để so chiếu giữa quy định của Việt Nam với chuẩn mực quốc tế, giữa văn bản luật hiện hành với các văn bản tiền nhiệm, và so sánh đối chiếu trực tiếp giữa ĐƯQT với TTQT.
- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp: Xử lý các số liệu ký kết thực tế từ Bộ Ngoại giao để đánh giá thực trạng và làm căn cứ xây dựng giải pháp hoàn thiện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về điều ước quốc tế và thoả thuận quốc tế
Chương 1 tập trung phân tích hệ thống khái niệm, đặc điểm lý luận và các quy định pháp luật điều chỉnh ĐƯQT và TTQT. Tác giả chỉ ra rằng theo Công ước Viên 1969, ĐƯQT cấu thành từ ba yếu tố: chủ thể phải là chủ thể của luật quốc tế, hình thức bằng văn bản, và làm phát sinh giá trị ràng buộc pháp lý quốc tế. Theo Luật ĐƯQT 2016 (khoản 1 Điều 2), ĐƯQT là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của quốc gia theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi.
Đối với TTQT, pháp luật quốc tế không có định nghĩa thống nhất mà thuật ngữ này được tiếp cận theo nghĩa rộng (bao gồm cả ĐƯQT và các cam kết chính trị) hoặc nghĩa hẹp (các thỏa thuận hành chính, kỹ thuật cấp cơ quan). Tại Việt Nam, khoản 1 Điều 2 Luật TTQT 2020 xác định TTQT là thỏa thuận bằng văn bản về hợp tác quốc tế giữa bên ký kết Việt Nam trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ với bên ký kết nước ngoài, không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế.
Tác giả thiết lập sự phân định toàn diện giữa hai loại văn bản qua các tiêu chí pháp lý cốt lõi:
| Tiêu chí phân định |
Điều ước quốc tế (ĐƯQT) |
Thỏa thuận quốc tế (TTQT) |
| Tư cách nhân danh / Chủ thể Việt Nam |
Nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ (do Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định). |
Nhân danh cơ quan nhà nước trung ương, cơ quan cấp tỉnh, tổng cục/cục thuộc Bộ, UBND cấp huyện, UBND cấp xã biên giới, cơ quan tổ chức chính trị - xã hội... |
| Bên ký kết nước ngoài |
Chủ thể của pháp luật quốc tế (quốc gia, tổ chức quốc tế, thực thể đặc biệt). |
Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài. |
| Giá trị pháp lý & Hiệu lực ràng buộc |
Làm phát sinh trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia; có hiệu lực ràng buộc tuyệt đối; ưu tiên áp dụng so với luật trong nước (trừ Hiến pháp). |
Không ràng buộc pháp lý quốc tế đối với Nhà nước/Chính phủ; thực hiện dựa trên nguyên tắc tự nguyện, hữu nghị, hợp tác và trách nhiệm của cơ quan ký. |
| Hình thức và Tên gọi |
Thể hiện bằng văn bản; tên gọi không bị hạn chế (hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, nghị định thư...). |
Thể hiện bằng văn bản; không được sử dụng tên gọi đặc thù của ĐƯQT (công ước, hiệp ước, định ước, hiệp định). |
| Nội dung điều chỉnh |
Các vấn đề cơ bản, quan trọng: chủ quyền, biên giới, an ninh, quyền con người, ODA, tư pháp, hội nhập kinh tế... |
Mang tính kỹ thuật, hợp tác chuyên ngành; không được quy định các nội dung thuộc phạm vi bắt buộc phải ký ĐƯQT. |
| Quy trình, thủ tục ký kết |
Thống nhất, chặt chẽ, nhiều bước: đàm phán, kiểm tra, thẩm định, thẩm tra, ký kết, phê chuẩn/phê duyệt/gia nhập, bảo lưu. |
Đơn giản, linh hoạt: lấy ý kiến cơ quan liên quan/Bộ Ngoại giao và tiến hành ký; không áp dụng phê chuẩn, phê duyệt, bảo lưu. |
| Căn cứ chấm dứt hiệu lực |
Chỉ chấm dứt theo quy định của chính ĐƯQT đó hoặc theo thỏa thuận giữa các bên (Luật 2016 đã bỏ các căn cứ đơn phương chấm dứt). |
Chấm dứt theo quy định của TTQT, theo thỏa thuận, hoặc khi có hành vi vi phạm nguyên tắc ký kết và thực hiện TTQT. |
Chương 2: Thực trạng ký kết và thực hiện điều ước quốc tế và thoả thuận quốc tế của Việt Nam
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn thông qua các số liệu thống kê chính thức và phân tích sâu những kết quả đạt được cũng như bất cập pháp lý đang tồn tại:
-
Thực tiễn ký kết:
- Về ĐƯQT: Thống kê từ Bộ Ngoại giao giai đoạn từ ngày 01/01/2006 đến 31/10/2014 ghi nhận Việt Nam đã ký 1.023 ĐƯQT song phương (254 ĐƯQT nhân danh Nhà nước, 769 ĐƯQT nhân danh Chính phủ) và 219 ĐƯQT đa phương (36 nhân danh Nhà nước, 183 nhân danh Chính phủ). Trung bình mỗi năm ký kết hơn 100 ĐƯQT.
- Về TTQT: Báo cáo số 5147/BC-BNG-LPQT của Bộ Ngoại giao giai đoạn 01/07/2007 đến 31/12/2016 ghi nhận 1.926 TTQT được ký kết. Trong đó, cơ quan trung ương ký 1.035 văn bản, cơ quan cấp tỉnh ký 789 văn bản, và cơ quan trung ương của tổ chức ký 102 văn bản. Số lượng TTQT có xu hướng tăng nhanh qua từng năm: năm 2014 có 146 TTQT, năm 2015 có 281 TTQT, năm 2016 có 224 TTQT và năm 2017 tăng lên 417 TTQT. Riêng năm 2017, các đơn vị cấp tổng cục, cục thuộc Bộ đã ký 129 TTQT. Trong các chuyến thăm cấp cao giai đoạn 2018–2019, có khoảng 30 TTQT được ký kết.
-
Thành tựu và bất cập trong thực hiện ĐƯQT:
- Thành tựu: Luật ĐƯQT 2016 đã thể chế hóa đường lối của Đảng, quy định đồng bộ thẩm quyền phù hợp Hiến pháp 2013, bổ sung chương về thủ tục rút gọn, tách bạch thủ tục đề xuất đàm phán và đề xuất ký, và gắn trách nhiệm của cơ quan đề xuất với khâu tổ chức thực hiện (Điều 76).
- Bất cập:
- Chưa có quy định hướng dẫn cách thức áp dụng ĐƯQT: Việc nội luật hóa thiếu thống nhất về hình thức văn bản ban hành (luật hay văn bản dưới luật) đối với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Việc áp dụng trực tiếp theo khoản 2 Điều 6 gặp khó khăn do luật không đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là quy định "đủ rõ, đủ chi tiết", dẫn đến phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của hồ sơ trình và thẩm định của Bộ Tư pháp.
- Xung đột giữa ĐƯQT và pháp luật trong nước: Điển hình là quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015 (cho phép áp dụng thẩm quyền tài phán hình sự đối với hành vi phạm tội tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam), mâu thuẫn với Điều 56 UNCLOS 1982 và các Điều 16, 17, 20, 30 Luật Biển Việt Nam 2012.
- Bỏ sót chế định giải thích ĐƯQT: Luật ĐƯQT 2016 đã loại bỏ toàn bộ các điều khoản về giải thích ĐƯQT (vốn được quy định từ Điều 74 đến Điều 79 Luật ĐƯQT 2005), làm thiếu căn cứ pháp lý để các cơ quan, tổ chức hiểu và áp dụng chính xác cam kết quốc tế.
-
Thành tựu và bất cập trong thực hiện TTQT:
- Thành tựu: Luật TTQT 2020 đã mở rộng chủ thể ký kết xuống cấp tổng cục, cục, UBND cấp huyện, UBND cấp xã biên giới; làm rõ định nghĩa không làm phát sinh nghĩa vụ quốc gia; bổ sung thủ tục rút gọn phục vụ yêu cầu đối ngoại khẩn cấp; và thiết lập cơ chế xin ý kiến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với các TTQT chuyên ngành (Điều 25).
- Bất cập:
- Tính ràng buộc thực thi thấp: TTQT không có chế tài bảo đảm thực hiện, chủ yếu dựa trên "tinh thần hữu nghị, hợp tác". Dẫn chứng Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được Tòa Trọng tài quốc tế xác định là thỏa thuận không ràng buộc pháp lý, khiến Việt Nam không thể dùng DOC làm căn cứ khởi kiện hành vi vi phạm mà phải viện dẫn UNCLOS 1982.
- Mở rộng chủ thể chưa hợp lý: Quy định cho phép ký kết TTQT với "cá nhân nước ngoài" (khoản 4 Điều 2) là không phù hợp vì quan hệ với cá nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật hợp đồng dân sự, đầu tư (vốn bị loại trừ tại khoản 2 Điều 1).
- Thiếu sót về quy trình thẩm định và hình thức ký kết: Luật chỉ bắt buộc lấy ý kiến Bộ Ngoại giao mà không yêu cầu thẩm định tính hợp pháp, hợp hiến từ Bộ Tư pháp; đồng thời thiếu quy định chi tiết về thủ tục "thông qua" và "trao đổi văn kiện" tạo thành TTQT.
-
Mối quan hệ giữa ĐƯQT và TTQT: TTQT đóng vai trò hỗ trợ, là biện pháp linh hoạt tạm thời để xử lý các cam kết đối ngoại nhạy cảm trong thời gian các bên chưa thể đàm phán, ký kết ĐƯQT do tính chất phức tạp về lợi ích (như trường hợp ký kết DOC tại Biển Đông).
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, ranh giới pháp lý giữa ĐƯQT và TTQT theo hệ thống pháp luật hiện hành. Công trình tổng hợp các số liệu thực tiễn ký kết từ các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Ngoại giao), qua đó phản ánh toàn diện thực trạng áp dụng Luật ĐƯQT 2016 và Luật TTQT 2020.
Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Từ các bất cập được chỉ ra, tác giả đề xuất các nhóm kiến nghị cụ thể:
- Hoàn thiện Luật ĐƯQT 2016:
- Xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết tiêu chí xác định quy định ĐƯQT "đủ rõ, đủ chi tiết" để làm cơ sở chuẩn hóa việc áp dụng trực tiếp.
- Thống nhất cơ chế, hình thức văn bản quy phạm pháp luật sử dụng trong quá trình nội luật hóa các cam kết quốc tế phức tạp.
- Bổ sung trở lại chế định "giải thích điều ước quốc tế" vào luật nhằm đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng, hạn chế nguy cơ xung đột với pháp luật trong nước.
- Hoàn thiện Luật TTQT 2020:
- Bãi bỏ quy định xác định "cá nhân nước ngoài" là chủ thể ký kết TTQT tại khoản 4 Điều 2 để tránh chồng chéo với pháp luật dân sự, thương mại.
- Bổ sung quy định bắt buộc lấy ý kiến thẩm định về mặt pháp lý của Bộ Tư pháp trong quy trình ký kết TTQT nhằm kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản.
- Ban hành quy định hướng dẫn chi tiết quy trình, thủ tục đối với hai hình thức làm phát sinh hiệu lực TTQT chưa được hướng dẫn là "thông qua thỏa thuận quốc tế" và "trao đổi văn kiện tạo thành thỏa thuận quốc tế".
Đóng góp so với các nghiên cứu trước
Khóa luận đã khắc phục hạn chế của các công trình trước đây (vốn chỉ phân tích riêng rẽ từng loại văn bản hoặc nghiên cứu trên các văn bản luật cũ đã hết hiệu lực như Luật ĐƯQT 2005, Pháp lệnh TTQT 2007). Công trình đặt hai đạo luật hiện hành (Luật ĐƯQT 2016 và Luật TTQT 2020) vào thế đối chiếu song song, làm nổi bật mối tương quan tương hỗ giữa ĐƯQT và TTQT trong tổng thể hoạt động đối ngoại của Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do Luật TTQT 2020 mới có hiệu lực thi hành từ năm 2021, thời điểm nghiên cứu (năm 2023) chưa có báo cáo tổng kết chính thức toàn diện về việc thi hành đạo luật này trên phạm vi toàn quốc. Nguồn số liệu thống kê về TTQT trong thực tiễn chưa phản ánh được tuyệt đối do một số bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện đầy đủ chế độ gửi báo cáo hàng năm về Bộ Ngoại giao.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành Luật TTQT 2020 khi có các báo cáo tổng kết giai đoạn; mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ các thỏa thuận quốc tế không ràng buộc pháp lý và khảo sát chuyên sâu kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trên thế giới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt thuộc chuyên ngành Luật Quốc tế, Công pháp quốc tế, Luật Thương mại quốc tế cần tài liệu nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa ĐƯQT và TTQT.
- Cán bộ làm công tác đối ngoại và pháp chế: Cán bộ tại các Bộ, ngành, UBND các cấp, cơ quan chuyên môn và lực lượng vũ trang trực tiếp tham mưu, soạn thảo, thẩm định hồ sơ đàm phán, ký kết văn kiện quốc tế.
- Các nội dung đáng tham khảo: Khung tiêu chí phân định ĐƯQT và TTQT; phân tích các điểm xung đột giữa Luật ĐƯQT với Bộ luật Hình sự 2015; và quy trình ký kết TTQT chuyên ngành trong lĩnh vực quốc phòng (Thông tư 105/2021/TT-BQP).
Câu hỏi thường gặp
1. Căn cứ nào để phân biệt một văn bản quốc tế là ĐƯQT hay TTQT theo pháp luật Việt Nam?
Căn cứ chính là tư cách chủ thể ký kết và giá trị pháp lý ràng buộc. ĐƯQT được ký nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế của Việt Nam. TTQT được ký nhân danh các cơ quan, tổ chức cụ thể trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý của quốc gia theo pháp luật quốc tế. Tên gọi văn bản không quyết định bản chất ĐƯQT, nhưng TTQT tuyệt đối không được dùng 4 tên gọi đặc thù của ĐƯQT (hiệp ước, công ước, định ước, hiệp định).
2. Điểm khác biệt căn bản về căn cứ chấm dứt hiệu lực giữa Luật ĐƯQT 2016 và Luật ĐƯQT 2005 là gì?
Luật ĐƯQT 2005 cho phép Việt Nam chủ động chấm dứt hiệu lực ĐƯQT dựa trên 7 căn cứ khác nhau (bao gồm cả trường hợp đối phương vi phạm, thay đổi cơ bản hoàn cảnh, cắt đứt quan hệ ngoại giao...). Luật ĐƯQT 2016 (Điều 55) đã bãi bỏ các căn cứ đơn phương này, chỉ cho phép chấm dứt theo quy định của chính ĐƯQT đó hoặc theo thỏa thuận giữa các bên, nhằm thể hiện sự thiện chí và bảo đảm cam kết quốc tế.
3. Tại sao tác giả cho rằng quy định cho phép "cá nhân nước ngoài" ký kết TTQT tại Luật TTQT 2020 là chưa hợp lý?
Vì quan hệ hợp tác giữa cơ quan, tổ chức với cá nhân bản chất thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự hoặc đầu tư (các quan hệ này vốn bị loại trừ tại khoản 2 Điều 1 Luật TTQT 2020). Cá nhân không chịu các ràng buộc ngoại giao, chính trị, dẫn đến mức độ bảo đảm thực hiện cam kết thấp và thực tiễn ký kết tại Việt Nam chưa ghi nhận tiền lệ đối với chủ thể này.
4. Vì sao việc loại bỏ quy định về "giải thích ĐƯQT" trong Luật ĐƯQT 2016 lại bị xem là một bất cập?
Giải thích ĐƯQT là cơ sở pháp lý để các cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu đúng tinh thần và nội dung văn kiện. Việc thiếu vắng cơ chế giải thích chính thức dễ dẫn đến việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước xung đột với cam kết quốc tế (như mâu thuẫn giữa Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015 và UNCLOS 1982), đồng thời gây khó khăn cho việc áp dụng trực tiếp ĐƯQT trên thực tế.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Lê Thị Minh Anh đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống, làm rõ bản chất lý luận và ranh giới pháp lý giữa điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Thông qua việc phân tích toàn diện các quy định của Luật ĐƯQT 2016 và Luật TTQT 2020 cùng số liệu thực tiễn thi hành, tác giả đã chỉ ra những khoảng trống pháp lý nổi bật về phương thức áp dụng, cơ chế thẩm định và phân định chủ thể ký kết. Các giải pháp, kiến nghị được đề xuất mang tính cụ thể, góp phần hoàn thiện thể chế pháp luật đối ngoại và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế của Việt Nam.