Điều Ước Quốc Tế và Thoả Thuận Quốc Tế Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Hành

Khám phá điều ước quốc tế và thoả thuận quốc tế theo pháp luật Việt Nam hiện hành, cùng những quy định và ý nghĩa pháp lý quan trọng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

61
42
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ THOẢ THUẬN QUỐC TẾ

1.1. Khái quát về “điều ước quốc tế” và “thoả thuận quốc tế”

1.2. Nguyên tắc ký kết và thực hiện

1.3. Quy định về điều ước quốc tế và thoả thuận quốc tế theo pháp luật Việt Nam hiện hành

1.4. Chủ thể ký kết

1.5. Giá trị pháp lý của điều ước quốc tế và thoả thuận quốc tế

1.6. Hình thức làm phát sinh hiệu lực của văn bản

1.7. Căn cứ chấm dứt, rút khỏi, tạm đình chỉ hiệu lực của văn bản

1.8. Trình tự ký kết

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ THOẢ THUẬN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

2.1. Thực tiễn ký kết điều ước quốc tế và thoả thuận quốc tế của Việt Nam

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật điều ước quốc tế và thoả thuận quốc tế ở Việt Nam

2.3. Đối với điều ước quốc tế

2.4. Đối với thoả thuận quốc tế

2.5. Mối quan hệ giữa ĐƯQT và TTQT

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Điều Ước Quốc Tế và Thoả Thuận Quốc Tế Hiện Hành

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu. Để hòa nhập, Việt Nam đẩy mạnh quan hệ ngoại giao thông qua điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế. Pháp luật Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh, như Luật Điều ước quốc tế 2016 và Luật Thỏa thuận quốc tế 2020. Mặc dù cả hai đều điều chỉnh quan hệ quốc tế, giá trị pháp lý của chúng khác nhau, tạo ra sự tương đồng và khác biệt trong quy định. Việc làm rõ sự khác biệt này rất quan trọng để áp dụng đúng loại văn bản. Bài viết này sẽ nghiên cứu những bất cập trong quá trình ký kết và thực hiện hai loại văn bản này tại Việt Nam, phân tích đặc điểm, mối tương quan giữa điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế.

1.1. Định Nghĩa và Phạm Vi Điều Chỉnh của Điều Ước Quốc Tế

Luật Điều ước quốc tế năm 2016 định nghĩa điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của Việt Nam theo pháp luật quốc tế. Điều này không phụ thuộc vào tên gọi của văn bản. Theo Điều 2 khoản 1 của Luật ĐƯQT 2016, ĐƯQT ràng buộc trách nhiệm pháp lý của Việt Nam theo pháp luật quốc tế. Công ước Viên về luật điều ước quốc tế là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc giải thích và áp dụng luật ĐƯQT của Việt Nam. Điều ước có giá trị ràng buộc pháp lý với các bên ký kết.

1.2. Bản Chất Pháp Lý và Mục Đích của Thoả Thuận Quốc Tế

Luật Thỏa thuận quốc tế năm 2020 định nghĩa thỏa thuận quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản về hợp tác quốc tế giữa bên ký kết Việt Nam trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình với bên ký kết nước ngoài, không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của Việt Nam theo pháp luật quốc tế. TTQT chỉ mang tính chất hợp tác, không ràng buộc pháp lý như ĐƯQT. Pháp lệnh Ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế 2007 (Pháp lệnh năm 2007) là một trong những văn bản tiền đề cho Luật TTQT 2020.

II. Thách Thức Phân Biệt Điều Ước và Thoả Thuận Quốc Tế

Việc phân biệt điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế là rất quan trọng nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Cả hai đều là văn bản quốc tế, nhưng giá trị pháp lý khác nhau. Điều ước quốc tế ràng buộc trách nhiệm pháp lý của Nhà nước, trong khi thỏa thuận quốc tế thì không. Sự nhầm lẫn có thể dẫn đến việc áp dụng sai quy định pháp luật và ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế của Việt Nam. Theo tác giả Lê Thị Minh Anh, việc xác định loại văn bản điều chỉnh quan hệ quốc tế tương ứng rất quan trọng, cần nghiên cứu những bất cập trong quá trình thực hiện ký kết hai loại văn bản này tại Việt Nam

2.1. Tiêu Chí Phân Loại Căn Cứ vào Chủ Thể Ký Kết

Chủ thể ký kết là một tiêu chí quan trọng. Điều ước quốc tế thường được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ. Thỏa thuận quốc tế có thể được ký kết bởi các cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan cấp tỉnh, hoặc cơ quan trung ương của tổ chức. Cần xác định rõ thẩm quyền ký kết để đảm bảo tính hợp pháp của văn bản. Việc ký kết điều ước nhân danh Nhà nước cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình và thủ tục theo quy định.

2.2. So Sánh Giá Trị Pháp Lý và Mức Độ Ràng Buộc

Điều ước quốc tế tạo ra các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho Việt Nam theo luật quốc tế. Việt Nam phải thực hiện các nghĩa vụ này một cách thiện chí. Thỏa thuận quốc tế không tạo ra các nghĩa vụ pháp lý ràng buộc. Nó chủ yếu là một cam kết chính trị hoặc hành chính. Việc vi phạm điều ước có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý quốc tế, trong khi vi phạm thỏa thuận thường chỉ ảnh hưởng đến uy tín.

2.3. Phân Tích Ảnh Hưởng Đến Quan Hệ Quốc Tế Việt Nam

Sự nhầm lẫn giữa điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế có thể ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế của Việt Nam. Nếu Việt Nam coi một thỏa thuậnđiều ước, có thể tạo ra kỳ vọng không chính đáng cho đối tác. Ngược lại, nếu Việt Nam coi một điều ướcthỏa thuận, có thể làm suy yếu cam kết của mình. Việc tuân thủ điều ước quốc tế là yếu tố quan trọng để xây dựng lòng tin và uy tín trong quan hệ quốc tế.

III. Phương Pháp Xác Định Giá Trị Pháp Lý của Văn Bản Quốc Tế

Để phân biệt điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế, cần xác định rõ giá trị pháp lý của văn bản. Xem xét mục đích, nội dung, và ngôn ngữ của văn bản. Tìm hiểu ý định của các bên ký kết. Tham khảo ý kiến của các chuyên gia pháp lý. Theo Khoá luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Minh Anh, cần làm rõ sự khác biệt về mục đích và giá trị của thoả thuận so với điều ước: “Thỏa thuận quốc tế là văn bản quốc tế nhưng không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với Nhà nước và Chính phủ Việt Nam như ĐƯQT.”

3.1. Kiểm Tra Mục Đích và Nội Dung của Văn Bản

Mục đích của văn bản có phải là tạo ra các quyền và nghĩa vụ pháp lý hay không? Nội dung của văn bản có chứa các cam kết cụ thể, rõ ràng hay không? Xem xét ngôn ngữ sử dụng trong văn bản. Ngôn ngữ pháp lý thường được sử dụng trong điều ước quốc tế. Ngôn ngữ mang tính chất khuyến nghị, hợp tác thường được sử dụng trong thỏa thuận quốc tế.

3.2. Nghiên Cứu Ý Định của Các Bên Ký Kết

Tìm hiểu xem các bên ký kết có ý định ràng buộc mình bởi luật quốc tế hay không. Xem xét các tuyên bố, trao đổi, và hành vi của các bên liên quan đến văn bản. Phân tích bối cảnh đàm phán và ký kết văn bản. Ý định của các bên là yếu tố quan trọng để xác định giá trị pháp lý của văn bản.

3.3. Tư Vấn Ý Kiến Của Chuyên Gia Pháp Lý Quốc Tế

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia pháp lý quốc tế có kinh nghiệm trong lĩnh vực điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế. Yêu cầu các chuyên gia phân tích văn bản và đưa ra nhận định về giá trị pháp lý của nó. Ý kiến của các chuyên gia là nguồn thông tin quan trọng để đưa ra quyết định chính xác.

IV. Hướng Dẫn Quy Trình Ký Kết và Thực Hiện ĐƯQT TTQT

Quy trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế được quy định chi tiết trong Luật Điều ước quốc tế và Luật Thỏa thuận quốc tế. Tuân thủ đúng quy trình là rất quan trọng để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của văn bản. Theo tác giả Lê Thị Minh Anh, việc tuân thủ quy trình ký kết và thực hiện có thể giúp giảm thiểu các rủi ro và tranh chấp sau này.

4.1. Các Bước Cơ Bản trong Ký Kết Điều Ước Quốc Tế

Quy trình ký kết điều ước quốc tế bao gồm đàm phán, ký, phê chuẩn, và gia nhập. Đàm phán là giai đoạn các bên thảo luận và thống nhất về nội dung của điều ước. Ký là giai đoạn các bên chính thức ký vào văn bản điều ước. Phê chuẩn là giai đoạn cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt điều ước. Gia nhập là giai đoạn một quốc gia không phải là thành viên ban đầu của điều ước tham gia vào điều ước đó.

4.2. Thủ Tục Đơn Giản Hóa Trong Ký Kết Thoả Thuận Quốc Tế

Quy trình ký kết thỏa thuận quốc tế thường đơn giản hơn so với điều ước quốc tế. Không yêu cầu phê chuẩn hoặc gia nhập. Các bước cơ bản bao gồm đàm phán và ký. Việc đơn giản hóa thủ tục ký kết giúp các cơ quan nhà nước linh hoạt hơn trong việc hợp tác quốc tế.

4.3. Trách Nhiệm Của Các Cơ Quan Nhà Nước Liên Quan

Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực hiện điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế một cách nghiêm túc. Cần có cơ chế giám sát và đánh giá việc thực hiện. Các cơ quan nhà nước cần phối hợp chặt chẽ với nhau để đảm bảo việc thực hiện hiệu quả. Việc thực hiện điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế góp phần vào việc thực hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam.

V. Nghiên Cứu Thực Tiễn Ký Kết và Thực Hiện ĐƯQT TTQT tại VN

Thực tiễn ký kết và thực hiện điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế tại Việt Nam cho thấy nhiều thành tựu và thách thức. Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế quan trọng, góp phần vào việc hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, việc thực hiện điều ước quốc tế còn gặp nhiều khó khăn, do hệ thống pháp luật chưa đồng bộ và năng lực của cán bộ còn hạn chế. Tác giả Lê Thị Minh Anh đề xuất cần có các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế tại Việt Nam.

5.1. Thống Kê Số Lượng và Loại Hình Văn Bản Đã Ký Kết

Việt Nam đã ký kết hàng nghìn điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế. Các điều ước quốc tế bao gồm các hiệp định thương mại, hiệp định đầu tư, và các hiệp định về hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau. Các thỏa thuận quốc tế bao gồm các thỏa thuận về hợp tác kỹ thuật, hợp tác văn hóa, và hợp tác giáo dục.

5.2. Phân Tích Hiệu Quả Thực Hiện và Tác Động Kinh Tế Xã Hội

Việc thực hiện điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế và xã hội cho Việt Nam. Các hiệp định thương mại đã giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu. Các hiệp định đầu tư đã thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Các hiệp định hợp tác đã giúp Việt Nam nâng cao năng lực trong nhiều lĩnh vực.

5.3. Đánh Giá Những Vấn Đề Tồn Tại và Giải Pháp Khắc Phục

Việc thực hiện điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế còn gặp nhiều khó khăn. Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ. Năng lực của cán bộ còn hạn chế. Cần có các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện, như hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực của cán bộ, và tăng cường giám sát và đánh giá.

VI. Kết Luận Hoàn Thiện Pháp Luật về ĐƯQT và TTQT Hiện Nay

Pháp luật Việt Nam về điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn cần được hoàn thiện hơn nữa. Cần có quy định rõ ràng hơn về tiêu chí phân biệt điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế. Cần có cơ chế giám sát và đánh giá việc thực hiện điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế hiệu quả hơn. Việc hoàn thiện pháp luật về điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế sẽ góp phần vào việc hội nhập quốc tế sâu rộng hơn của Việt Nam.

6.1. Đề Xuất Sửa Đổi và Bổ Sung Các Quy Định Pháp Luật

Nghiên cứu sửa đổi Luật Điều ước quốc tế và Luật Thỏa thuận quốc tế để làm rõ hơn các quy định về tiêu chí phân biệt, thẩm quyền ký kết, và quy trình thực hiện. Bổ sung các quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế.

6.2. Kiến Nghị Nâng Cao Năng Lực Của Cán Bộ Chuyên Trách

Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ chuyên trách về điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế. Mời các chuyên gia pháp lý quốc tế tham gia giảng dạy và chia sẻ kinh nghiệm. Tạo điều kiện cho cán bộ tham gia các hội nghị, hội thảo quốc tế về điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế.

6.3. Giải Pháp Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế và Chia Sẻ Kinh Nghiệm

Tăng cường hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế để trao đổi kinh nghiệm về xây dựng và thực hiện pháp luật về điều ước quốc tếthỏa thuận quốc tế. Tham gia các diễn đàn quốc tế để đóng góp ý kiến và học hỏi kinh nghiệm. Chủ động chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam với các quốc gia khác.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ THOẢ THUẬN QUỐC TẾ 1. Khái quát về “điều ước quốc tế” và “thoả thuận quốc tế”: 1. Định nghĩa theo pháp luật quốc tế: Hiện nay, pháp luật quốc tế chỉ làm rõ khái niệm về “điều ước quốc tế” mà không đưa ra định nghĩa chính thức về “thoả thuận quốc tế”. Điều ước quốc tế: Dựa theo Công ước Viên 1969 và Công ước Viên 19861, “điều ước” là TTQT được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia với nhau, giữa quốc gia với tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế với nhau và được pháp luật quốc tế điều chỉnh2.

Như vậy, để trở thành ĐƯQT theo định nghĩa pháp luật quốc tế thì cần phải đáp ứng ba (03) yếu tố cơ bản về (i) chủ thể, (ii) hình thức và (iii) giá trị pháp lý, cụ thể như sau: • Chủ thể: Xuất phát từ định nghĩa “điều ước” phải do pháp luật quốc tế điều chỉnh nên chủ thể có thẩm quyền ký kết và tham gia vào ĐƯQT chỉ có thể là chủ thể của pháp luật quốc tế (quốc gia, tổ chức quốc tế, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết và thực thể đặc biệt). Mặc dù Công ước Viên 1969 chỉ điều chỉnh việc ký kết và thực hiện ĐƯQT giữa các quốc gia, phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên 1986 chỉ áp dụng đối với quốc gia – tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau nhưng không đồng 1 Công ước này chưa chính thức có hiệu lực (https://quochoi.vn/uybandoingoai/content/tintuc/Lists/News/Attachments/110/[9]%2020150825%20- %20FINAL%20-%20Tom%20tat%20thuc%20tien%20quoc%20te%20ve%20DUQT. 2 Điểm a khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1969, điểm a khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1986 9 nghĩa với việc chỉ có những chủ thể này mới có thẩm quyền ký kết và thực hiện ĐƯQT. Những ĐƯQT miễn là được ký kết bởi chủ thể của pháp luật quốc tế đều có giá trị và phát sinh hiệu lực3.

• Hình thức: ĐƯQT chỉ có thể được công nhận khi được thoả thuận và ký kết dưới dạng văn bản, những hình thức khác như bằng miệng hay bằng hành động (bất thành văn) đều không được xem là ĐƯQT nhưng vẫn được công nhận về giá trị pháp lý. • Giá trị pháp lý: Văn bản quốc tế phải có giá trị ràng buộc các bên về mặt pháp lý dưới sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế, đồng nghĩa rằng một văn bản quốc tế làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền lợi và nghĩa vụ của chủ thể quốc tế khi tham gia ký kết và thực hiện là ĐƯQT. Văn bản không chỉ có hiệu lực với chủ thể ký kết mà còn phát sinh hiệu lực với pháp nhân, công dân, thành viên của chủ thể ký kết. Thoả thuận quốc tế: Hiện nay, “thoả thuận quốc tế” là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, phổ biến nhưng pháp luật quốc tế chưa có sự thống nhất về khái niệm thuật ngữ này.

Theo Từ điển tiếng Việt, “thoả thuận” là đồng ý với nhau về điều nào đó có quan hệ đến các bên, sau khi đã bàn bạc và “quốc tế” chỉ về quan hệ giữa các nước trên thế giới4, kết hợp lại có thể hiểu rằng “thoả thuận quốc tế” là sự đồng ý giữa các quốc gia trên thế giới về điều nào đó có liên quan đến các bên. Trong tiếng Anh, thuật ngữ “thoả thuận” (agreement) là trường hợp các bên có cùng quan điểm hoặc đồng ý, chấp nhận về một điều gì đó5 và “quốc tế” (international) thể hiện sự liên quan đến hai 3 Điều 3 Công ước Viên 1969, Điều 3 Công ước Viên 1986 4 Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt (2006), NXB Đà Nẵng, tr.org/dictionary/english/agreement, truy cập ngày 20/04/2023, truy cập ngày 20/04/2023 10 quốc gia trở lên6. Như vậy, cách hiểu dưới góc nhìn thông thường trong tiếng Việt và tiếng Anh về thuật ngữ này là giống nhau. Dưới góc độ pháp lý, Điều 102 Hiến chương Liên hợp quốc đã đề cập đến TTQT và có sự tách biệt giữa “điều ước quốc tế” và “thoả thuận quốc tế” khi ghi nhận: “Mọi hiệp ước và thoả thuận quốc tế được bất Thành viên nào của Liên hợp quốc ký kết sau khi Hiến chương hiện tại có hiệu lực sẽ sớm nhất có thể được đăng ký với Ban thư ký và được Ban thư ký công bố.

Bất kỳ điều ước hoặc thoả thuận quốc tế chưa được đăng ký theo quy định Điều này sẽ không được Thành viên có liên quan viện dẫn trước bất kỳ cơ quan nào của Liên hợp quốc”7. Bên cạnh đó, Công ước Viên 1969 và 1986 định nghĩa TTQT cũng có thể sử dụng để chỉ ĐƯQT khi ĐƯQT theo các Công ước này được hiểu là “TTQT được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh…”, “TTQT được ký kết bằng văn bản giữa một hoặc nhiều quốc gia với một hoặc nhiều tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế và được pháp luật quốc tế điều chỉnh,…”. Theo quan điểm một số học giả, cách hiểu “TTQT” (international agreement) rất rộng, thể hiện sự nhất trí của các Bên thông qua thương lượng, bao gồm cả ĐƯQT (Treaties) và các loại hình văn bản quốc tế khác như hiệp ước (Conventions), giao thức (Protocols), thoả thuận (Agreements), tuyên bố (Declarations), văn kiện cuối cùng (Final Acts), công hàm (Exchanges of Note)8. Đồng nghĩa rằnng, TTQT sẽ bao gồm những thoả thuận có giá trị ràng buộc bởi pháp luật quốc tế (điển hình là các ĐƯQT) và những thoả thuận không ràng buộc (hay còn gọi là “cam kết chính trị”)9.

Trong trường hợp này TTQT được hiểu theo 6 https://dictionary.org/dictionary/english/international,, truy cập ngày 20/04/2023 truy cập ngày 20/04/2023, truy cập ngày 20/04/2023 7 Hiến chương Liên hợp quốc 1945, https://www.org/en/about-us/un-charter/chapter-16, truy cập ngày 20/04/2023, truy cập ngày 20/04/2023, truy cập ngày 20/04/2023 8 JE Read – Can. Rev, International Agreements, 1948, tr.org/HOL/LandingPage?handle=hein.journals/canbarev26&div=39&id=&page=, truy cập ngày 20/04/2023 9 OAS – Inter-American Judicial Committee (2020), IAJC Guidelines on binding and non-binding agreements, tr.1 11 nghĩa rộng, do đó TTQT rất đa dạng về chủ thể ký kết, pháp luật điều chỉnh và giá trị pháp lý. Bên cạnh đó, TTQT cũng có thể hiểu theo nghĩa hẹp, dùng để chỉ văn kiện quốc tế ở cấp độ thấp hơn (less formal) và được sử dụng ở những lĩnh vực hẹp hơn so với ĐƯQT, được ký kết bởi các cơ quan, đơn vị của quốc gia mà không phải nhân danh Nhà nước, Chính phủ, có thể được gọi là thoả thuận hành chính, chỉ có giá trị ràng buộc với chủ thể ký kết. Các TTQT này có thể ký kết ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng bị giới hạn ở một số lĩnh vực quan trọng (quân sự, ngoại giao, kinh tế quốc gia,…)10.

Đây là cách hiểu thông dụng và được nhiều quốc gia sử dụng như Hoa Kỳ, Mexico, Việt Nam,… 1. Định nghĩa theo pháp luật Việt Nam: Khác với pháp luật quốc tế, tại Việt Nam, khái niệm ĐƯQT và TTQT được quy định trong các văn bản pháp luật, từ những văn bản pháp luật đầu tiên quy định về hai vấn đề này và dần được bổ sung, hoàn thiện hơn ở các văn bản pháp lý sau. Đối với ĐƯQT, Pháp lệnh Ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1989 là văn bản pháp lý đầu tiên đưa ra định nghĩa: “Điều ước quốc tế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm hiệp ước, công ước, định ước, hiệp định, nghị định thư, thoả thuận, công hàm trao đổi và các văn kiện pháp lý quốc tế khác ký kết giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế”. Cách thức định nghĩa theo phương pháp liệt kê này đảm bảo tính cụ thể, giúp dễ dàng xác định loại văn bản quốc tế nào là ĐƯQT.

Tuy nhiên, định nghĩa này có một số hạn chế nhất định: không mang tính khái quát, làm phạm vi của ĐƯQT bị thu hẹp, không thể hiện được bản chất của ĐƯQT, dẫn đến xác định sai loại văn bản là ĐƯQT khi các văn bản có cùng tên gọi nhưng khác nhau về mục đích, bản chất. Nhằm khắc phục những hạn chế này, Nhà 10 Phạm Hồng Nhật, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về TTQT”, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 11/2022, tr.75 – 76 12 nước đã có sự sửa đổi, bổ sung ở các văn bản pháp lý sau. Định nghĩa tại Luật ĐƯQT 2016 được xem là hoàn thiện, gỡ bỏ được những hạn chế trước đó và tương đồng với định nghĩa của pháp luật quốc tế khi xác định rằng ĐƯQT phải nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ, chịu sự điều chỉnh của luật quốc tế và không phụ thuộc vào tên gọi, Điều 2 khoản 1 của Luật ĐƯQT 2016 ghi nhận rằng “Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác. Luật ĐƯQT 2016 đã có bước tiến quan trọng khi nêu được bản chất của ĐƯQT ngay trong định nghĩa, điều mà các văn bản trước chưa thực hiện được, là ràng buộc trách nhiệm pháp lý của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế.

Đối với TTQT, định nghĩa đầu tiên được ghi nhận trong Pháp lệnh Ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế 2007 (sau đây gọi tắt là “Pháp lệnh năm 2007”) tại khoản 1 Điều 2: “Thỏa thuận quốc tế là cam kết bằng văn bản về hợp tác quốc tế được ký kết nhân danh cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan cấp tỉnh, cơ quan trung ương của tổ chức trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình với một hoặc nhiều bên ký kết nước ngoài, trừ các nội dung sau đây: a) Hòa bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia; b) Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tương trợ tư pháp; c) Tham gia tổ chức quốc tế liên chính phủ; d) Hỗ trợ phát triển chính thức thuộc quan hệ cấp Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam; 13 đ) Các vấn đề khác thuộc quan hệ cấp Nhà nước hoặc Chính phủ theo quy định của pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ