CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ THOẢ THUẬN QUỐC TẾ 1. Khái quát về “điều ước quốc tế” và “thoả thuận quốc tế”: 1. Định nghĩa theo pháp luật quốc tế: Hiện nay, pháp luật quốc tế chỉ làm rõ khái niệm về “điều ước quốc tế” mà không đưa ra định nghĩa chính thức về “thoả thuận quốc tế”. Điều ước quốc tế: Dựa theo Công ước Viên 1969 và Công ước Viên 19861, “điều ước” là TTQT được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia với nhau, giữa quốc gia với tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế với nhau và được pháp luật quốc tế điều chỉnh2.
Như vậy, để trở thành ĐƯQT theo định nghĩa pháp luật quốc tế thì cần phải đáp ứng ba (03) yếu tố cơ bản về (i) chủ thể, (ii) hình thức và (iii) giá trị pháp lý, cụ thể như sau: • Chủ thể: Xuất phát từ định nghĩa “điều ước” phải do pháp luật quốc tế điều chỉnh nên chủ thể có thẩm quyền ký kết và tham gia vào ĐƯQT chỉ có thể là chủ thể của pháp luật quốc tế (quốc gia, tổ chức quốc tế, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết và thực thể đặc biệt). Mặc dù Công ước Viên 1969 chỉ điều chỉnh việc ký kết và thực hiện ĐƯQT giữa các quốc gia, phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên 1986 chỉ áp dụng đối với quốc gia – tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau nhưng không đồng 1 Công ước này chưa chính thức có hiệu lực (https://quochoi.vn/uybandoingoai/content/tintuc/Lists/News/Attachments/110/[9]%2020150825%20- %20FINAL%20-%20Tom%20tat%20thuc%20tien%20quoc%20te%20ve%20DUQT. 2 Điểm a khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1969, điểm a khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1986 9 nghĩa với việc chỉ có những chủ thể này mới có thẩm quyền ký kết và thực hiện ĐƯQT. Những ĐƯQT miễn là được ký kết bởi chủ thể của pháp luật quốc tế đều có giá trị và phát sinh hiệu lực3.
• Hình thức: ĐƯQT chỉ có thể được công nhận khi được thoả thuận và ký kết dưới dạng văn bản, những hình thức khác như bằng miệng hay bằng hành động (bất thành văn) đều không được xem là ĐƯQT nhưng vẫn được công nhận về giá trị pháp lý. • Giá trị pháp lý: Văn bản quốc tế phải có giá trị ràng buộc các bên về mặt pháp lý dưới sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế, đồng nghĩa rằng một văn bản quốc tế làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền lợi và nghĩa vụ của chủ thể quốc tế khi tham gia ký kết và thực hiện là ĐƯQT. Văn bản không chỉ có hiệu lực với chủ thể ký kết mà còn phát sinh hiệu lực với pháp nhân, công dân, thành viên của chủ thể ký kết. Thoả thuận quốc tế: Hiện nay, “thoả thuận quốc tế” là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, phổ biến nhưng pháp luật quốc tế chưa có sự thống nhất về khái niệm thuật ngữ này.
Theo Từ điển tiếng Việt, “thoả thuận” là đồng ý với nhau về điều nào đó có quan hệ đến các bên, sau khi đã bàn bạc và “quốc tế” chỉ về quan hệ giữa các nước trên thế giới4, kết hợp lại có thể hiểu rằng “thoả thuận quốc tế” là sự đồng ý giữa các quốc gia trên thế giới về điều nào đó có liên quan đến các bên. Trong tiếng Anh, thuật ngữ “thoả thuận” (agreement) là trường hợp các bên có cùng quan điểm hoặc đồng ý, chấp nhận về một điều gì đó5 và “quốc tế” (international) thể hiện sự liên quan đến hai 3 Điều 3 Công ước Viên 1969, Điều 3 Công ước Viên 1986 4 Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt (2006), NXB Đà Nẵng, tr.org/dictionary/english/agreement, truy cập ngày 20/04/2023, truy cập ngày 20/04/2023 10 quốc gia trở lên6. Như vậy, cách hiểu dưới góc nhìn thông thường trong tiếng Việt và tiếng Anh về thuật ngữ này là giống nhau. Dưới góc độ pháp lý, Điều 102 Hiến chương Liên hợp quốc đã đề cập đến TTQT và có sự tách biệt giữa “điều ước quốc tế” và “thoả thuận quốc tế” khi ghi nhận: “Mọi hiệp ước và thoả thuận quốc tế được bất Thành viên nào của Liên hợp quốc ký kết sau khi Hiến chương hiện tại có hiệu lực sẽ sớm nhất có thể được đăng ký với Ban thư ký và được Ban thư ký công bố.
Bất kỳ điều ước hoặc thoả thuận quốc tế chưa được đăng ký theo quy định Điều này sẽ không được Thành viên có liên quan viện dẫn trước bất kỳ cơ quan nào của Liên hợp quốc”7. Bên cạnh đó, Công ước Viên 1969 và 1986 định nghĩa TTQT cũng có thể sử dụng để chỉ ĐƯQT khi ĐƯQT theo các Công ước này được hiểu là “TTQT được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh…”, “TTQT được ký kết bằng văn bản giữa một hoặc nhiều quốc gia với một hoặc nhiều tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế và được pháp luật quốc tế điều chỉnh,…”. Theo quan điểm một số học giả, cách hiểu “TTQT” (international agreement) rất rộng, thể hiện sự nhất trí của các Bên thông qua thương lượng, bao gồm cả ĐƯQT (Treaties) và các loại hình văn bản quốc tế khác như hiệp ước (Conventions), giao thức (Protocols), thoả thuận (Agreements), tuyên bố (Declarations), văn kiện cuối cùng (Final Acts), công hàm (Exchanges of Note)8. Đồng nghĩa rằnng, TTQT sẽ bao gồm những thoả thuận có giá trị ràng buộc bởi pháp luật quốc tế (điển hình là các ĐƯQT) và những thoả thuận không ràng buộc (hay còn gọi là “cam kết chính trị”)9.
Trong trường hợp này TTQT được hiểu theo 6 https://dictionary.org/dictionary/english/international,, truy cập ngày 20/04/2023 truy cập ngày 20/04/2023, truy cập ngày 20/04/2023 7 Hiến chương Liên hợp quốc 1945, https://www.org/en/about-us/un-charter/chapter-16, truy cập ngày 20/04/2023, truy cập ngày 20/04/2023, truy cập ngày 20/04/2023 8 JE Read – Can. Rev, International Agreements, 1948, tr.org/HOL/LandingPage?handle=hein.journals/canbarev26&div=39&id=&page=, truy cập ngày 20/04/2023 9 OAS – Inter-American Judicial Committee (2020), IAJC Guidelines on binding and non-binding agreements, tr.1 11 nghĩa rộng, do đó TTQT rất đa dạng về chủ thể ký kết, pháp luật điều chỉnh và giá trị pháp lý. Bên cạnh đó, TTQT cũng có thể hiểu theo nghĩa hẹp, dùng để chỉ văn kiện quốc tế ở cấp độ thấp hơn (less formal) và được sử dụng ở những lĩnh vực hẹp hơn so với ĐƯQT, được ký kết bởi các cơ quan, đơn vị của quốc gia mà không phải nhân danh Nhà nước, Chính phủ, có thể được gọi là thoả thuận hành chính, chỉ có giá trị ràng buộc với chủ thể ký kết. Các TTQT này có thể ký kết ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng bị giới hạn ở một số lĩnh vực quan trọng (quân sự, ngoại giao, kinh tế quốc gia,…)10.
Đây là cách hiểu thông dụng và được nhiều quốc gia sử dụng như Hoa Kỳ, Mexico, Việt Nam,… 1. Định nghĩa theo pháp luật Việt Nam: Khác với pháp luật quốc tế, tại Việt Nam, khái niệm ĐƯQT và TTQT được quy định trong các văn bản pháp luật, từ những văn bản pháp luật đầu tiên quy định về hai vấn đề này và dần được bổ sung, hoàn thiện hơn ở các văn bản pháp lý sau. Đối với ĐƯQT, Pháp lệnh Ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1989 là văn bản pháp lý đầu tiên đưa ra định nghĩa: “Điều ước quốc tế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm hiệp ước, công ước, định ước, hiệp định, nghị định thư, thoả thuận, công hàm trao đổi và các văn kiện pháp lý quốc tế khác ký kết giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế”. Cách thức định nghĩa theo phương pháp liệt kê này đảm bảo tính cụ thể, giúp dễ dàng xác định loại văn bản quốc tế nào là ĐƯQT.
Tuy nhiên, định nghĩa này có một số hạn chế nhất định: không mang tính khái quát, làm phạm vi của ĐƯQT bị thu hẹp, không thể hiện được bản chất của ĐƯQT, dẫn đến xác định sai loại văn bản là ĐƯQT khi các văn bản có cùng tên gọi nhưng khác nhau về mục đích, bản chất. Nhằm khắc phục những hạn chế này, Nhà 10 Phạm Hồng Nhật, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về TTQT”, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 11/2022, tr.75 – 76 12 nước đã có sự sửa đổi, bổ sung ở các văn bản pháp lý sau. Định nghĩa tại Luật ĐƯQT 2016 được xem là hoàn thiện, gỡ bỏ được những hạn chế trước đó và tương đồng với định nghĩa của pháp luật quốc tế khi xác định rằng ĐƯQT phải nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ, chịu sự điều chỉnh của luật quốc tế và không phụ thuộc vào tên gọi, Điều 2 khoản 1 của Luật ĐƯQT 2016 ghi nhận rằng “Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác. Luật ĐƯQT 2016 đã có bước tiến quan trọng khi nêu được bản chất của ĐƯQT ngay trong định nghĩa, điều mà các văn bản trước chưa thực hiện được, là ràng buộc trách nhiệm pháp lý của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế.
Đối với TTQT, định nghĩa đầu tiên được ghi nhận trong Pháp lệnh Ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế 2007 (sau đây gọi tắt là “Pháp lệnh năm 2007”) tại khoản 1 Điều 2: “Thỏa thuận quốc tế là cam kết bằng văn bản về hợp tác quốc tế được ký kết nhân danh cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan cấp tỉnh, cơ quan trung ương của tổ chức trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình với một hoặc nhiều bên ký kết nước ngoài, trừ các nội dung sau đây: a) Hòa bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia; b) Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tương trợ tư pháp; c) Tham gia tổ chức quốc tế liên chính phủ; d) Hỗ trợ phát triển chính thức thuộc quan hệ cấp Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam; 13 đ) Các vấn đề khác thuộc quan hệ cấp Nhà nước hoặc Chính phủ theo quy định của pháp luật.