CHƯƠNG 1 PHÂN TÍCH TỔNG QUAN VỀ HỆ TRUYỀN ĐỘNG ĐIỆN THỦY LỰC Nội dung Chương này phân tích tổng quan về hệ truyền động với cơ cấu chấp hành là các phần tử thủy lực; làm rõ các đặc điểm điều khiển hệ thống, tính phi tuyến của mô hình động học động cơ chấp hành và bậc của hệ thống. Tổng quan về hệ truyền động điện thủy lực Nguyên lý biển đổi áp suất và động năng của dòng chảy chất lỏng (thủy lực) thành lực và mô men đã được trình bày trong [11], [15], [16], [26]…; cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật công nghệ, truyền động điện thủy lực được ứng dụng để giải quyết hàng loạt các bài toán và nhiệm vụ trong các lĩnh vực công nghiệp, quốc phòng, hàng không vũ trụ, phương tiện trên biển [55], [56]… Điển hình nhất trong số đó là điều khiển chuyển động của các đối tượng có khối lượng lớn hoặc mômen quán tính lớn. Ngoài tải trọng và mômen lớn, hệ thống truyền động còn có các yêu cầu hoạt động ở nhiều chế độ khác nhau: chuyển động với tốc độ không đổi hoặc với một lực không đổi (lực hoặc mômen), bám sát vị trí với các dải tốc độ khác nhau, hoặc điều chỉnh xung quanh vị trí cân bằng [2], [3]. Xét các tổ hợp vũ khí, ứng dụng các cơ cấu chấp hành thủy lực tương đối phổ biến [113].
Ta có thể dẫn ra các ứng dụng: Hệ truyền động bám sát điện thủy lực trong các hệ thống súng, pháo trên các phương tiện cơ động, xe tăng, tàu biển, rada, tên lửa [6], [13], [14]…. Trong các tổ hợp này đòi hỏi đặc tính của truyền động có độ chính xác cao, đáp ứng thời gian nhanh, hiệu suất cao, mật độ năng lượng lớn, khả năng chịu quá tải lớn. Để đáp ứng được các yêu cầu cao, các cơ cấu trong hệ thủy lực đã được nghiên cứu, hoàn thiện theo nhiều hướng: Phần kết cấu cơ khí, vật liệu, và các cơ cấu điều chỉnh để bảo đảm tính điều khiển được hoàn toàn quá trình biến đổi năng lượng. Trong đó có thể thay đổi thiết kế cơ khí để bảo đảm tính kín khít để chịu được các áp lực cao, bền vững…, sử dụng vật liệu mới, ứng dụng 9 các công cụ và phương pháp điều khiển cải tiến, hiện đại [40], [55].
Với việc kết hợp các thiết bị mới và phương pháp điều khiển hiện đại có thể tạo ra các bộ truyền động điện - thủy lực đáp ứng đồng thời các yêu cầu ứng dụng. Nhiệm vụ thiết kế các hệ thống truyền động điện thủy lực và xây dựng các phương pháp điều khiển cho các hệ thống như vậy ngày nay hoàn toàn có thể giải quyết được [113]. Hệ thống truyền động thủy lực được mô tả như sơ đồ khối tại hình 1.1 bao gồm: Nguồn thủy lực: Nhận cơ năng từ bên ngoài, biến đổi thành áp suất và lưu lượng của dầu thủy lực thông qua các phần tử bơm. Cơ cấu chấp hành thủy lực: Thực hiện biến đổi áp suất, lưu lượng của dầu thủy lực thành lực hoặc mô men cung cấp cho tải thông qua mô hình động cơ thủy lực, xy-lanh thủy lực.
Cơ cấu điều chỉnh: Thực hiện quá trình điều chỉnh các hoạt động biến đổi năng lượng từ nguồn sơ cấp thành cơ năng trên tải theo yêu cầu. Ta có thể điều chỉnh hoạt động của quá trình biến đổi từ nguồn sơ cấp, điều chỉnh hoạt động của bơm, điều chỉnh hoạt động của động cơ thủy lực, điều chỉnh áp suất cung cấp đến động cơ… Tác động điều chỉnh Cơ cấu điều chỉnh Vị trí, tốc độ, mô men Động cơ truyền động (nguồn năng lượng cơ Động cơ Bơm thủy lực Tải học: Động cơ điện, động cơ đốt trong) Năng lượng dòng chảy Cơ năng được Cơ năng của môi chất công tác điều chỉnh Hình 1. Sơ đồ khối hệ thống truyền động thủy lực 10 Để điều tiết được quá trình trao đổi năng lượng từ nguồn cơ năng sơ cấp sinh ra từ động cơ điện hoặc động cơ đốt trong thông qua mô hình hoạt động của bơm thủy lực, bơm thủy lực cung cấp áp suất làm việc của môi chất công tác, áp suất này có thể điều chỉnh một cách dễ dàng bằng các tác động điều khiển. Động cơ thủy lực hoạt động biến đổi năng lượng được tích trữ dưới dạng áp suất thành mô men, lực tác động đến tải.
Cơ cấu điều chỉnh thực hiện việc điều tiết quá trình trao đổi năng lượng giữa nguồn năng lượng sơ cấp với bơm để tạo ra áp suất làm việc phù hợp để động cơ thủy lực làm việc và chuyển áp suất thành cơ năng quay máy sản xuất (tải). Việc điều chỉnh ta có thể thực hiện thông qua các cơ chế: - Điều chỉnh tốc độ động cơ dẫn động bơm; - Điều chỉnh năng suất bơm; - Điều chỉnh thông qua thiết bị phân phối (van tỷ lệ, servo). Việc điều chỉnh quá trình biến đổi năng lượng trong các hệ truyền động thủy lực có nhiều phương pháp, dẫn đến một số nhận định rằng hệ truyền động thủy lực dễ điều khiển hơn hệ thống truyền động điện. Hệ truyền động điện thủy lực được xác định là hệ truyền động với cơ cấu chấp hành thủy lực được điều chỉnh bởi các phần tử điện từ.
Tính điều khiển được của hệ truyền động thủy lực Mặc dù truyền động điện đã trở thành phổ biến như hiện nay cho các hệ thống điều khiển chuyển động, nhưng hệ truyền động điện thủy lực vẫn có những ứng dụng đặc thù và đang được phát triển trong các hệ chuyển động. Ví dụ như các máy công trình, các máy công nghiệp, robot, các hệ truyền động vũ khí [6], [13], [14]… Tính điều khiển được của hệ truyền động điện thủy lực là thông qua tác động của tín hiệu đầu vào làm thay đổi lực và mô men trên cơ cấu chấp hành. So với hệ truyền động điện, ta thấy có mối quan hệ tương đồng giữa hai hệ thống thể hiện trên hình 1. Tính tương đồng giữa mạch điện và mạch thủy lực 1.
Phương pháp điều chỉnh qua phần tử van điều chỉnh lưu lượng Giả thiết nguồn cung cấp áp suất và lưu lượng là không đổi, cung cấp cho nhiều thiết bị thủy lực trong hệ thống. Tại mỗi vị trí của thiết bị chấp hành ta thực hiện điều chỉnh quá trình biến đổi thành cơ năng trên tải thông qua phần tử van thủy lực điều chỉnh tiết diện dẫn dầu thủy lực đi qua (tiết lưu). Ta có thể mô tả phương pháp điều chỉnh này trên hình 1.3 cho mô hình tải là xy-lanh thủy lực, động cơ thủy lực, hoặc hỗn hợp cả xy-lanh và động cơ thủy lực. Phương pháp điều chỉnh dùng van tiết lưu 12 Với phương pháp này, phần tử thực hiện điều chỉnh là van tiết lưu.
Phương pháp này có ưu điểm là thực hiện điều chỉnh đơn giản, phù hợp cho việc điều chỉnh nhiều đối tượng với một nguồn cung cấp. Tuy nhiên hiệu suất quá trình điều chỉnh không cao, nguồn cung cấp phải duy trì thường xuyên, không tận dụng được động năng của đường dầu hồi, và đặc tính điều chỉnh của van tiết lưu phi tuyến. Động học quá trình điều chỉnh có đáp ứng chậm, khi đảo chiều chuyển động còn tồn tại một vùng không nhạy. Phương pháp này tương tự như phương pháp điều chỉnh điện trở trong mạch điện.
Phương pháp điều chỉnh lưu lượng thông qua năng suất bơm Thực hiện điều tiết lưu lượng của nguồn thủy lực, lưu lượng thay đổi dẫn đến áp suất thay đổi trong một đơn vị thể tích. Phương pháp này thực hiện được trên cơ sở kết cấu của phần tử bơm thủy lực. Có thể kết hợp với phương pháp điều chỉnh tiết lưu (Hình 1. a - tải xilanh; b – tải động cơ thủy lực; c – tải xilanh và động cơ thủy lực Hình 1.
Phương pháp điều chỉnh lưu lượng 13 Đối với phương pháp này có ưu điểm là tận dụng được năng lượng của đường dầu hồi dẫn đến hiệu suất quá trình làm việc cao hơn, động học quá trình điều chỉnh nhanh hơn, việc đảo chiều tốt hơn so với phương pháp tiết lưu. Nhược điểm là một nguồn chỉ cung cấp cho một tải. Phương pháp này tương đương với việc điều chỉnh dòng điện trong mạch điện, phù hợp với các hệ truyền động súng pháo trên phương tiện cơ động [13], [14], [41]… 1. Phương pháp điều chỉnh động cơ dẫn động bơm Ngoài các phương pháp trên, ta có thể thực hiện điều chỉnh thông qua việc điều chỉnh tốc động hệ truyền động điện dẫn động bơm (Hình 1.
Ta có thể thấy phương pháp này thực hiện điều chỉnh nguồn cơ năng cung cấp cho hệ bơm. Phương pháp điều chỉnh động cơ dẫn động bơm (nguồn sơ cấp) Theo cách này ta có thể quy đổi về lớp bài toán điều chỉnh truyền động điện, khi đó tải phần phủy lực có thể quy đổi về thành phần mô men cản trên đầu trục động cơ. Tuy nhiên mục tiêu điều khiển cũng được quy đổi tương đương về tốc độ quay của động cơ dẫn động bơm. Hay nói cách khác điều chỉnh lưu lượng dầu cung cấp thông qua tốc độ quay của bơm.
Các phần tử cơ bản của hệ thống truyền động thủy lực Các phần tử trong hệ thống có các ký hiệu theo quy ước chung, ví dụ một hệ thống thủy lực được mô tả trên hình 1. 14 1 - Nguồn thủy lực, 2 -Van tỷ lệ điều chỉnh lưu lượng, 3 -Van điện từ hai trạng thái, 4 -Cảm biến áp suất, 5 - Xy-lanh chấp hành, 6 - Cảm biến vị trí Hình 1. Sơ đồ hệ truyền động thủy lực Tương tự như cách tiếp cận của các phần tử trong mạch điện, các phần tử trong mạch thủy lực đã dẫn ra trong [40] bao gồm các thành phần sau: a. Nguồn thủy lực, dầu thủy lực và các đặc tính của nó: Nguồn thủy lực bảo đảm áp suất 𝑝 và lưu lượng dầu cung cấp 𝑄 cho hệ thống làm việc từ nguồn cơ năng sơ cấp cung cấp cho bơm thủy lực.
Với giả thiết nguồn cung cấp là lý tưởng. Dầu thủy lực là môi chất làm nhiệm vụ trung chuyển năng lượng, có tính nhớt, và tính đàn hồi [40], trong quá trình làm việc, nhiệt độ của dầu thay đổi. Các phần tử van thủy lực và đường ống, bình tích… Các phần tử van thực hiện các chức năng: phân chia (van hướng), bảo vệ (van an toàn), van chặn một chiều, van tỷ lệ, van servo [40]. Các phần tử chấp hành thủy lực: Các phần tử chấp hành bao gồm: xy-lanh thủy lực, động cơ thủy lực [40] 15 d.
Các phần tử cảm biến đo lường các đại lượng lưu lượng, áp suất, dịch chuyển Để nhận được các tín hiệu mang thông tin về trạng thái làm việc của hệ thống, người ta sử dụng các phần tử cảm biến.