chương 1, người viết tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền sở hữu trí tuệ và góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Tổng quan về quyền sở hữu trí tuệ 1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ Liên quan khái niệm “quyền sở hữu trí tuệ”, thực chất vấn đề này đã manh nha từ Pháp luật La Mã nhưng thời điểm này chưa được xem và ghi nhận một cách cụ thể mà chỉ được sơ lược theo cách phân loại “tài sản hữu hình và tài sản vô hình16”. Về sau, chính sự ghi nhận này được thể hiện ở các nước phát triển, trong đó có nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau.
Mãi đến, sự ra đời của văn bản pháp lý quốc tế năm 1967 liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ trở về sau thì khái niệm này được cho là có nhiều điểm chung ở một cách hiểu đơn giản rằng: “quyền sở hữu trí 15 Từ những năm 2005, khi chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp được Chính phủ thông qua tại quyết định số: 68/2005/QĐ-TTg, ngày 04/4/2005,của Thủ tướng chính phủ “Về việc phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp”, chương trình này đã tập trung triển khai các hoạt động khuyến khích hoạt động sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp tạo lập, khai thác, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các thành quả sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp khai thác thông tin sở hữu trí tuệ. Tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng đó, những chính sách mới cũng đã được đặt ra cho sự phát triển và thương mại hóa tài sản trí tuệ bằng việc ban hành nhiều quy định khung khác nhau trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 13/2019/NĐ-CP, ngày 01-02-2019, “Về doanh nghiệp khoa học và công nghệ”; Ban hành Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung hiện hành. 16 Nguyễn Ngọc Điện: “Giáo trình Luật La Mã”, Nxb, Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội 2009, trang 11. 14 tuệ là những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được tạo ra bằng sức lao động sáng tạo trí óc của con người”17.
Từ những quy định trên, đều này góp phần xây dựng và hình thành nên cho cách hiểu về “quyền sở hữu trí tuệ” trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Lần đầu tiên, tại Bộ luật Dân sự năm 1995, nhà làm luật đã nhắc đến một số vấn đề pháp lý liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ18 nhưng vấn đề ở đây chỉ dừng lại ở việc ghi nhận nhưng lại không đưa ra bất kỳ sự giải thích nào để hiểu rằng “quyền sở hữu trí tuệ” là gì. Trong khoảng mười năm, kể từ khi ra đời của Bộ luật Dân sự năm 1995 cho đến năm 2005 hàng loạt văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ đã được xây dựng và ban hành nhằm bổ sung những quy định còn thiếu hoặc sửa đổi những quy định không phù hợp với sự phát triển của đất nước hay tại nhưng quy định chưa đáp ứng với các yêu cầu của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên 19. Trước những đòi hỏi mạnh mẽ phải hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Dân sự mới “Bộ luật Dân sự năm 2005”, trong đó có những điểm sáng được cho là mở đường cho sự ra đời một đạo luật riêng về sở hữu trí tuệ.
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và chính thức đưa vào áp dụng, đây được cho là văn bản 17 Cách hiểu này được cho là dựa trên những khái quát cơ bản của các quy định có liên quan về lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại: Điều ước quốc tế: (1). Công ước thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (Wipo) năm 1967. “Sở hữu trí tuệ sẽ bao gồm các quyền liên quan đến: tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, buổi biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm và chương trình phát sóng, phát minh trong tất cả các lĩnh vực có sự nỗ lực của con người, khám phá khoa học, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại và ký hiệu, bảo vệ chống lại cạnh tranh không lành mạnh,và tất cả các quyền khác có được từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật” (2) Hiệp định Trips về sở hữu trí tuệ năm 1994 không ghi nhận trực tiếp khái niệm nhưng thông qua quy định người viết có thể hiểu: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền được trao cho mọi người do những sáng tạo của trí óc họ. Họ thường trao cho người sáng tạo độc quyền sử dụng tác phẩm của họ trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong đó, theo thông lệ được chia làm hai lĩnh vực chính: bản quyền và các quyền liên quan quyền tác giả; sở hữu công nghiệp.” Khoản 2 Điều 1 Hiệp định Trips về sở hữu trí tuệ năm 1994. 18 Xem thêm: khoản 4 Điều 13; Điều 188; Phần thứ sáu từ Điều 745 – 825 Bộ luật Dân sự 1995. Ngoài ra, tại thời điểm này nhà làm luật cũng ban hành Nghị định số: 63/1996/NĐ-CP ngày 24/10/1996 một văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp. 19 Đây là giai đoạn mà Việt Nam với tư cách là thành viên tham gia vào các Điều ước quốc tế, đều mà đòi hỏi là phải tôn trọng các thỏa thuận mà Việt Nam đã ký kết, kể đến như: Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 15 quy phạm pháp luật đầu tiên, riêng biệt điều chỉnh lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Luật sở hữu trí tuệ giai đoạn này được đánh giá cao bởi việc đáp ứng được tương đối đầy đủ và toàn diện nhất về cơ chế đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ khi yêu cầu mới đặt ra cho Việt Nam với tư cách là thành viên của WTO cũng như các hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ. Trong đó, liên quan đến khái niệm “quyền sở hữu trí tuệ” được cụ thể tại khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ghi nhận như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”. Sự ghi nhận khái niệm trên và cách thức bố cục (thể thức) của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cho thấy sự thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (những quy định mang tính giải thích thuật ngữ nhằm làm rõ nghĩa và cách hiểu xuyên suốt văn bản). Gần năm năm đi vào cuộc sống, những quy định pháp luật sở hữu trí tuệ cũng cần phải được nhìn nhận và đánh giá lại, nhất là khi nước ta tham gia vào các sân chơi quốc tế20 đều đặt ra đòi hỏi nhà làm luật cần thay đổi khung pháp lý sao cho phù hợp với thực tiễn.
Với sự tiếp thu, từ những khuyến nghị đưa ra nhằm hoàn thiện quy định pháp luật của các nhà nghiên cứu từ lý luận cho đến thực tiễn áp dụng quy định, từ đó dẫn đến vấn đề cần thiết trong việc việc sửa đổi, bổ sung Luật sở hữu trí tuệ. Năm 2009 được cho là năm có nhiều điểm đột phá trong việc thay đổi và tiến bộ về kỹ thuật lập pháp trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong đó kể đến một trong số các quy định được sửa đổi, bổ sung là Luật sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, liên quan đến khái niệm “quyền sở hữu trí tuệ” được ghi nhận tại khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và cho đến giai đoạn hiện tại tức Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 cũng không có sự thay đổi về khái niệm, việc giữ nguyên sự ghi nhận sự khái quát về khái niệm: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài 20 Điển hình là trong giai đoạn này Việt Nam đã và gia nhập nhiều hiệp định về sở hữu trí tuệ quan trọng đánh dấu cho sự phát triển về bảo hộ và khai thác thương mại hóa tài sản trí tuệ sâu sắc hơn là các Hiệp định Trips (là thỏa thuận pháp lý quốc tế giữa tất cả các quốc gia là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO). 16 sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.21” Dưới góc độ nhìn nhận, quan điểm tác giả cũng đồng ý trong việc cho rằng: đây là sự thành công lớn của nhà làm luật Việt Nam khi có cách nhìn và khái quát khái niệm “quyền sở hữu trí tuệ” tiệm cận với cách ghi nhận của hệ thống pháp luật quốc tế22.
Đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ Dựa trên chính khái niệm về “quyền sở hữu trí tuệ” và do xuất phát từ đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ là các tài sản trí tuệ 23 có những đặc trưng riêng nên 21 Hay tại văn bản mới nhất được thông qua là Luật Sở hữu trí tuệ vừa mới được Quốc hội thông qua có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2023 nhà làm luật cũng không có sự ghi nhận thay đổi liên quan đến khái niệm này. 22 Một trong những cơ chế đổi mới pháp luật về sở hữu trí tuệ này của Việt Nam hiện hành đã được nhiều học giả, những người nghiên cứu luật học và/hoặc tại các ấn phẩm bài viết cũng đánh giá là có nhiều điểm tiệm cận pháp luật quốc tế. Trong đó, nội dung khái quát về định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam có độ tương thích khá lớn kể đến như: i). Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ” (TRIPS) định nghĩa: “Quyền sở khái niệm quyền sở hữu trí tuệ (IPR) là các quyền được trao cho con người đối với những sáng tạo trí ốc của họ, thông thường trong 02 lĩnh vực rộng lớn bao gồm: lĩnh vực công nghiệp và lĩnh vực nghệ thuật”.
Nguyên bản: The World Trade Organization (WTO) Agreement on “Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights” (TRIPS) defines Intellectual Property Rights (IPRs) as “…the rights given to persons over the creations of their minds” (World Trade Organization, 2021).