Chương 1: Phường – phố Thăng Long và việc hình thành phố người Hoa ở Hà Nội Chương 2: Khu phố người Hoa ở Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX: Những đổi thay qua tư liệu địa chính Chương 3: Các cơ sở tín ngưỡng trên phố Hàng Ngang, Lãn Ông, Hàng Buồm, Mã Mây qua tư liệu địa chính 13 z Chƣơng 1. PHƢỜNG – PHỐ THĂNG LONG VÀ VIỆC HÌNH THÀNH PHỐ NGƢỜI HOA Ở HÀ NỘI 1. Quá trình hình thành phƣờng – phố ở Thăng Long-Hà Nội Theo chiều dài lịch sử của vùng kinh đô, hai yếu tố đô và thị với chức năng khác nhau đã dần định hình và cấu trúc thành kinh đô Thăng Long – Hà Nội. Phần thành hay đô - ở đây là Hoàng Thành - chính là nơi tập trung quyền lực là biểu tượng của hệ thống chính trị vương triều.
Sự hiện tồn, phát triển, hưng suy của yếu tố đô, thành gắn bó chặt chẽ với quá trình hưng tồn của các triều đại cầm quyền. Phía trong đô, thành có kết cấu xã hội tương đối thuần nhất: đó là nơi sinh sống, làm việc tập trung của giai tầng trên cùng trong xã hội nắm quyền điều hành mọi hoạt động của quốc gia. Về kinh tế được đảm bảo và đáp ứng bởi dòng kinh tế quan phương với các quan xưởng, công xưởng của Nhà nước với những thợ thủ công lành nghề cung cấp các nhu yếu phẩm cần thiết, chất lượng cao cho vua chúa, quan lại cũng như cho các hoạt động bang giao của triều đình. Phần thị là nơi tập trung buôn bán và tụ cư, nơi của chợ búa, phường nghề với những thị dân là nông dân, thợ thủ công, người buôn bán.
Trong khu vực thị dân, triều đình có biện pháp hành chính phân định các khu để quản lý. Theo đó, năm 1230, nhà Trần “định các phường về hai bên tả hữu của kinh thành, bắt chước đời trước chia làm 61 phường” [58, tr. Như vậy có thể nói việc chia đặt phường đã có từ các thời trước Trần, mặc dù chúng ta không có tư liệu đầy đủ về các phường này nhưng có thể biết tới một số phường qua Đại Việt sử ký toàn thư. Theo đó, thời Lý có nhắc đến tên của 3 phường là Cơ Xá1, Thái Hòa, và Bố Cái; thời nhà Trần có nhắc tên một số phường là Yên Hoa2, Cơ Xá, Giai Tuân (Nhai Tuân3), Toán Viên4, Tây Nhai (Liễu Giai) và Giang Khẩu.
Thời Lê – Trịnh có nhắc tên phường Nhật Chiêu, Đông Hà, Bích Câu, Vĩnh Xương, Khúc Phố, Phục Cổ. 1 Đại Việt sử ký toàn thư ghi lần tiên trong sự kiện năm 1108 đắp đê ở phường Cơ Xá. 2 Đại Việt sử ký toàn thư ghi trong sự kiện năm 1226. 3 Phường cư trú của người Tống sang quy thụ nhà Trần năm 1274.
4 Đại Việt sử ký toàn thư ghi trong sự kiện năm 1362. Còn có tên nôm là phường Vườn Tỏi. 14 z Tới thời Lê sơ, Thăng Long đổi tên thành Đông Kinh. Khu dân cư của hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương chia làm 36 phường, mỗi huyện 18 phường.
Thăng Long 36 phường được gọi bắt đầu từ đó. Khu phố buôn bán thuộc huyện Vĩnh Xương, sau đổi là Thọ Xương. Phường là đơn vị cơ bản, đặc trưng của đô thị truyền thống Việt Nam. Philippe Papin ví ý nghĩa sơ khai của phường như “làng trong thành phố” [38, tr.
Kết cấu xã hội trong các phường rất đa dạng, gồm nhiều giai tầng. Đó có thể bao gồm cả quan lại, nho sĩ, thợ thủ công, thương nhân, nông dân. Kết cấu kinh tế cũng phong phú, bao gồm: nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp. Với vị thế của chốn kinh kỳ, Thăng Long có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với các địa phương xung quanh, đặc biệt là các làng thủ công nghiệp.
Những thương nhân, thợ thủ công mà theo họ là kinh nghiệm buôn bán, là kỹ thuật và công cụ sản xuất, lên kinh đô định cư tập trung ở một phố phường, làm trong các quan xưởng của Nhà nước hoặc hành nghề tự do. Theo đà phát triển của thủ công nghiệp và buôn bán, mật độ tụ cư của thành thị Thăng Long ngày một tăng, các khu vực sản xuất và buôn bán có sự chuyên biệt nhất định. Phường từ chỗ là “làng trong thành phố” dần chuyển mình với ý nghĩa là địa bàn sinh sống, sản xuất của nhiều gia đình làm cùng một nghề thủ công– ta gọi là phường nghề. Các phường nghề thủ công tập trung chủ yếu ở vùng bờ sông Hồng trở vào đến hồ Hoàn Kiếm và phía đông của Hoàng Thành, tận dụng được sự tiện lợi của giao thông đường thủy.
Trong khi đó các phường phía tây trồng lúa, rau quả; các phường bên sông, hồ chuyên trồng dâu nuôi tằm; các phường phía nam và tây nam chuyên trồng rau. Từ chức năng đầu tiên là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở đô thị, theo thời gian với sự chuyển biến về dân cư, kinh tế, và văn hóa giữa các phường đã hình thành nên những đặc trưng riêng. Trong đó, không gian của mỗi phường có sự tương ứng (một cách tương đối) với không gian sinh sống của cư dân làm các nghề khác nhau mà cư dân nông nghiệp vừa là bộ phận dân cư chính của các 15 z phường chuyên về trồng lúa, trồng rau, vừa là lực lượng xen cư trong các phường nghề thủ công. Tuy nhiên, sự phân hóa về khu vực sản xuất, kinh doanh, sự chuyên môn hóa của thị dân ở kinh thành mới chỉ là tương đối.
Kinh đô Thăng Long vẫn mang dấu ấn nông thôn, người thương nhân hay thợ thủ công và nông dân ở kinh kỳ cũng chưa có sự chuyên môn hóa lao động thực sự. Theo Nguyễn Thừa Hỷ: “trong khung cảnh nền kinh tế hàng hóa giản đơn mang tính chất phong kiến ở Thăng Long, rất khó phân biệt rạch ròi giữa người thợ thủ công và người thương nhân, vì đại đa số họ đều kiêm nhiệm, hoặc gần như kiêm nhiệm cả hai khâu sản xuất và lưu thông trao đổi hàng hóa” [28, tr. Những bộ phận dân cư này gắn bó với nhau về phương diện kinh tế, chính trị và về mặt xã hội, văn hóa tín ngưỡng. Họ chung nhau xây dựng những đình, chùa, đền, miếu, thờ thành hoàng hoặc tổ nghề.
Trong khi đó, “phố” hình thành sau “phường”. Theo Nguyễn Thừa Hỷ trong Phố - phường Thăng Long-Hà Nội trong những thế kỷ XVII-XVIII-XIX: “Không tìm thấy tên các “phố” trong sách sử thời Lý - Trần và ngay cả ở đời Lê. Trong An Nam chí nguyên, khi nói về An Nam thời thuộc Minh, Cao Hùng Trưng có dùng từ “phố xá”, nhưng với ý nghĩa là các trạm dịch. Từ phố mang ý nghĩa kinh tế hình như chỉ chính thức xuất hiện từ thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn.
Về nguồn gốc, “phố” vừa có nghĩa là một bến, bờ, một đường dọc sông (như Nam phố, bến Nam tức phố Hàng Bè), vừa có nghĩa là phố xá, cửa hiệu (…) chúng tôi cho rằng “phố” gắn liền với ý nghĩa về hoạt động thương mại, buôn bán. Chúng ta thường nghe đến cụm từ “phố xá”. Trong tiếng Việt cổ, xá có nghĩa là nhà ở, cửa hàng, cửa hiệu. Tóm lại, nếu phường được coi như một diện tích thì phố chính là một trục của phường gồm có một con đường hai bên có nhà cửa - nhà ở và thường và cửa hiệu - có bề mặt trông ra mặt đường.
Các cửa hiệu đó thường vừa là cửa hàng sản xuất một số mặt hàng thủ công đòi hỏi kỹ thuật tinh (đồ vàng, bạc, đồ thêu, giày hài.) vừa là cửa hàng bày bán các hàng hóa đó”. 16 z Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, trên những trục đường chính trong phường ở kinh thành Thăng Long xuất hiện những dãy hàng bày bán sản phẩm thủ công do phường làm ra. Những gian hàng theo thời gian ngày một trù mật hơn hình thành nên những dãy phố đầu tiên với ý nghĩa sơ khai là con đường, là trục đường chính của phường nghề. Khi mức độ phát triển kinh tế của các phường nghề được nâng lên và ngày một chuyên môn hóa, dân cư trù mật, buôn bán sầm uất, các trục đường chính có hàng hóa bày bán trở thành những dãy phố thực sự với hàng quán hai bên san sát.
Sự hình thành của dãy phố buôn bán khẳng định trình độ phát triển của sản xuất thủ công, tổ chức buôn bán; đồng thời khẳng định hoạt động buôn bán diễn ra liên tục mỗi ngày không bị gián đoạn như chợ phiên. Tới khi những dãy phố được định hình thì phố có thể coi là bộ mặt của phường, mà để phân biệt tương đối như Đặng Thái Hoàng: “phường là một diện và phố là một tuyến” [23, tr. Những hàng hóa bày bán ở cửa hiệu hai bên phố cho thấy đặc trưng hàng hóa, loại hình ngành nghề sản xuất trong phường. Rồi từ hàng hóa thành tên gọi và chỉ cần đọc tên gọi ắt luận ra loại hàng hóa, đấy là khi sản xuất đã có sự chuyên môn hóa khu vực rõ nét.
Trong suốt một thời gian dài, sự tồn tại và phát triển của các phường nghề luôn chịu sự tác động mạnh mẽ từ các quy định nghiêm ngặt của nhà nước. Khi nhà Nguyễn lên ngôi và chuyển kinh đô về Phú Xuân-Huế, địa vị chính trị của Thăng Long suy giảm nhưng đây vẫn là trung tâm của miền Bắc, là địa điểm tốt lành cho việc giao thương. Hàng hóa cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của tầng lớp quan lại giảm đi nhưng Hà Nội vẫn là nơi sản xuất, trung chuyển các luồng hàng hóa từ khắp nơi. Không những thế, khi triều đình ở xa việc quản lý có phần buông lỏng thì hoạt động sản xuất và thương mại dân gian trở nên sôi động hơn trước.
Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: “Thành thị là nơi tụ họp công thương, có lẫn cả người nước Thanh, tập tục thích xa hoa… nguyên trước có 36 phố phường, nay ở quanh phía đông nam tỉnh thành gồm 21 phố, nhà ngói như bát úp, tụ họp các mặt hàng, nhân vật cũng phồn thịnh” [43, tr. 17 z Như vậy, trên cơ sở của tự nhiên, của sự phát triển xã hội, kinh tế. trong cấu trúc của phần thị ở Thăng Long đã hình thành nên các phường với các tuyến phố buôn bán đặc trưng. Phường: về mặt hành chính là những đơn vị cơ sở thuộc quyền quản lý của triều đình, của tỉnh thành.
Về mặt xã hội, đó là khu vực cộng cư của những thành phần dân cư với nguồn gốc, đặc điểm kinh tế, văn hóa tương đối gần gũi. Về kinh tế (xét một cách tương đối) đó là địa bàn sản xuất, buôn bán của cùng một nghề, cùng một mặt hàng.