Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC KẾT HỢP DỰA TRÊN HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Dạy học kết hợp 1.
Trên thế giới Sự phát triển mạnh mẽ của ICT thế kỷ thứ 21 đã tạo cho mô hình DH truyển thống có nhiều biến đổi tích cực. DH trực tuyến đã phát triển mạnh mẽ và mang lại nhiều hiệu quả nhất định ở các quốc gia, song nó chưa thực sự có thể thay thế hoàn toàn cho DH trực tiếp trên lớp học truyền thống. Theo Sikora [7], nghiên cứu chỉ ra rằng người học ít hài lòng với các khóa học trực tuyến khác với các khóa học truyền thống, do đó cần kết hợp thống nhất chúng lại để khai thác lợi thế của cả hai hình thức này. Hội đồng DH trực tuyến Bắc Mĩ nay là Viện Aurora đã đưa ra dự báo DHKH sẽ là mô hình DH chủ đạo trong tương lai, DHKH cần được nhìn nhận như một cách tiếp cận sư phạm, tích hợp được tính hiệu quả và các cơ hội xã hội trong lớp học với các khả năng thúc đẩy việc học tập một cách tích cực có sự hỗ trợ của công nghệ trong môi trường trực tuyến chứ không chỉ đơn thuần là cách DH [8].
Trên thế giới, các nghiên cứu bắt đầu tập trung vào DHKH là từ những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Đầu tiên có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Aycock, Graham, & Kaleta (2002) [9]; Dziuban, Hartman, & Moskal (2004) [10]; King & Hildreth (2001) [11]; Leh (2002) [12]; Martyn (2003) [13]; trường Đại học Wisconsin (2005) [14]; Young (2002) [15]. cho rằng mô hình DHKH tạo cho SV khả năng lựa chọn thời điểm học tốt nhất, môi trường học tập phù hợp và quản lý lịch trình học tập phù hợp với lối sống của đại đa số SV. Còn theo Aycock, Garnham, & Kaleta, (2002), thời gian linh hoạt là rất quan trọng đối với SV, nó giá trị hơn bất kỳ khó khăn công nghệ mà họ có thể gặp phải [9].
Riffell & Sibley (2003) [16] cho thấy DHKH đã tạo được sự linh hoạt về không gian và thời gian học tập cho người học. Người học có thể chủ động lựa chọn thời gian, thời điểm học tập bất cứ ở đâu và bất kì khi nào với sự hỗ trợ của CNTT. 8 Theo nghiên cứu của Đại học Wisconsin (2005) [14], SV đã tự tổ chức và quản lý thời gian cũng như các kỹ năng cần thiết để thành công trong khóa học kết hợp. Các SV ghi nhận môi trường DHKH là cần thiết, giúp họ trở nên tích cực tham gia học tập hơn thay vì thụ động tiếp nhận thông tin từ bài giảng.
Từ những nghiên cứu trên cho thấy, DHKH đã tạo điều kiện thuận lợi cho người học đồng thời giúp người dạy có thể sử dụng kết hợp các PPDH tích cực. Tổ hợp các PPDH tích cực phù hợp với nội dung dạy, tương thích với từng đối tượng học và khả năng học của người học đồng thời tăng cơ hội để người học được hỗ trợ từ GV và bạn học khác. Với các tổ hợp đa phương tiện kết hợp với các câu hỏi GV đã thiết kế, SV sẽ tự tìm tòi và chiếm lĩnh được kiến thức mới. Các hoạt động diễn ra trên các diễn đàn trực tiếp (phòng chat) hay diễn đàn tin tức của lớp học trực tuyến và hoạt động thảo luận trên lớp học giáp mặt giúp cho các SV trung bình và yếu có cơ hội theo kịp các bạn trong lớp.
Đồng thời thông qua các phòng thảo luận trực tuyến, GV có cơ hội quan tâm, hướng dẫn người học. Qua phân tích ý kiến của SV thì GV đưa ra được hạn chế của từng SV so với bạn, kết hợp với chuẩn kiến thức thì SV có thể tự nâng mình lên để theo kịp bạn. Dựa trên những điều tra về hiệu quả học tập của mô hình DHKH của Chang Zhu và Edmond Kagambe (2017) [17] cho thấy hiệu quả của mô hình DHKH thông qua phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm của SV (thái độ và tự điều chỉnh) và các tính năng thiết kế mô hình DHKH (chất lượng công nghệ, công cụ trực tuyến và hỗ trợ trực tiếp) với kết quả học tập. Kết quả nghiên cứu cho thấy DHKH tối ưu hóa được việc sử dụng đa phương tiện và tăng tính chuyên nghiệp của GV.
Trong DHKH, tổ hợp đa phương tiện sẽ hỗ trợ cho nhau, những kênh hình tĩnh sẽ hỗ trợ những kênh hình động và ngược lại. Tuy nhiên điều đó đòi hỏi người GV phải thực hiện hàng loạt các công việc một cách chuyên nghiệp như: Cấu trúc hóa logic nội dung dạy học, thiết kế phương tiện dạy học ở dạng kỹ thuật số, thiết kế bài giảng đa phương tiện, xây dựng website học trực tuyến để tải bài giảng lên mạng. Như vậy, qua hoạt động học tập với lớp học kết hợp, tức là hoạt động học tập tự học có sự hướng dẫn, người học sẽ trở nên tích cực tham gia chủ động vào quá trình học tập giáp mặt và trên lớp học trực tuyến. Điều này, giúp người học vừa có kiến thức về chuyên môn, vừa có điều kiện được rèn luyện và phát triển các năng lực học 9 tập như năng lực hợp tác, năng lực sử dụng CNTT, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực giao tiếp và các năng lực chuyên biệt của môn học.
Một trong những thế mạnh mà DHKH mang lại cho nền giáo dục đó là giúp giảm chi phí đào tạo và nâng cao hiệu quả dạy học. Đây là những kết quả nghiên cứu của Theo Utts, Sommer, Acredolo, Maher, và Matthews (2003), theo đó các SV cảm thấy khóa học kết hợp hiệu quả công việc cao hơn các khóa học giáp mặt (face to face) [18]. Từ đó cho thấy, DHKH làm giảm chi phí đào tạo trực tiếp, đặc biệt là đối với các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, các trường đại học, đặc biệt là trong đại dịch Covid-19 như hiện nay thì ngoài việc giảm chi phí đi lại, ăn ở, in ấn tài liệu học tập thì một trong những nhiệm vụ góp phần đẩy lùi đại dịch đó là lựa chọn dạy học trực tuyến kết hợp giáp mặt trong những điều kiện cụ thể để người học vừa phát triển tri thức và phát triển năng lực. Đồng thời, theo các nghiên cứu trên cho thấy DHKH còn giúp cải thiện việc giảng dạy cho các lớp có số lượng nhiều.
Những nghiên cứu của Osguthope & Graham (2003) đã đưa ra 6 lí do để chọn DHKH như một hình thức dạy học chủ đạo, bao gồm: (1) sự phong phú của tính sư phạm, (2) thuận lợi cho sự hiểu biết, (3) sự tương tác xã hội, (4) cơ quan cá nhân, (5) chi phí hiệu quả, (6) dễ dàng sửa đổi [19]. Kết quả nghiên cứu của Graham, Allen & Ure (2003) cho thấy, đa số người dân chọn mô hình DHKH vì ba lí do chính: (1) hoàn thiện tính sư phạm (2) tăng tính truy cập và sự linh hoạt (3) giảm chi phí [19]. Như vậy, hai công trình nghiên cứu trên đều cho thấy ưu điểm giảm chi phí khi sử dụng mô hình DHKH. Nhiều hệ thống DHKH đã được hoàn chỉnh và vận dụng hiệu quả ở các trường đại học của nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc, Mỹ, Mexico, Anh, Nam Mỹ [20]…nổi bật là nghiên cứu của đại học New Mexico đã tiến hành thiết kế lại môn “Tâm lý học” cho 2250 SV của họ bằng việc áp dụng mô hình DHKH.
Cũng theo đó, trường Brigham Young đã áp dụng DHKH cho 3400 SV năm thứ nhất cho khóa học viết báo. Các nghiên cứu trên đã cho thấy kết quả khả quan và tích cực của DHKH đối vớ nhận thức và kết quả học tập của SV. Để có thể đánh giá một cách tổng quan hiệu quả của DHKH, những nghiên cứu của nhóm tác giả Means, Toyama, Murphy, Ba kia, Jones (2010) [21] tiến hành với 46 nghiên cứu thực nghiệm đối với trường THPT và bậc đại học tại Mĩ, kết quả điều 10 tra cho thấy DHKH mang lại hiệu quả học tập vượt trội. Đã có sự khác biệt lớn về kết quả học tập của người học khi tiến hành học tập với DHKH so với dạy học kiểu giáp mặt.
Nguyên nhân của kết quả này đó là DHKH đã tạo ra được môi trường học tập thực học sâu (deep learning), học tập có ý nghĩa, phát triển tư duy phê phán, hình thức học tập cấp cao, DHKH tạo ra cho người học một môi trường làm việc độc lập và khả năng tự kiểm soát điều chỉnh quá trình học tập như trong nghiên cứu của hai tác giả Garrison và Kanuka (2004) [22] đã khẳng định. Cũng với vai trò đánh giá hiệu quả của DHKH, tác giả Singh (2003) [23] cung cấp một cái nhìn toàn diện về mô hình DHKH và đưa ra những bàn luận về các khía cạnh và thành phần có thể có của DHKH. Bên cạnh đó, Garrison và Kanuka (2004) cũng đã khẳng định mô hình DHKH (B- learning) là kết hợp sử dụng CNTT nhằm thúc đẩy quá trình học tập bên ngoài lớp học là một mô hình đã và đang ngày càng phổ biến đặc biệt là ở bậc đại học [22]. Có thể thấy rất rõ từ các bài đánh giá là hầu hết các nghiên cứu về mô hình DHKH đều tập trung vào các lĩnh vực giáo dục đại học [24], [25], [26], [27].
Trong những nghiên cứu về DHKH, tác giả Banados, E. Một số nhà nghiên cứu đã tiến hành các điều tra, khảo sát để xác định hiệu quả của việc tích hợp học tập trực tuyến với lớp học giáp mặt trong việc phát triển tư duy bậc cao hơn [24], [29], [30]. Kết quả báo cáo việc sử dụng môi trường học tập trực tuyến kết hợp lớp học giáp mặt đã tác động đến sự phát triển những tư duy bậc cao cho SV. Nhóm tác giả Tuncay Yigit, Arif Koyun, Asim Sinan Yuksel, Ibrahim Arda Cankaya.
Dựa vào những nghiên cứu về DHKH có thể thấy, DHKH đã và đang là xu hướng giáo dục mới và một hướng nghiên cứu mới của các nhà khoa học giáo dục trên thế giới. Các nghiên cứu khá đa dạng ở các mức độ khác nhau đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản của DHKH (định nghĩa, đặc điểm, yếu tố, lợi ích, xu hướng tương lai…) 11 và đánh giá được các kết quả khi vận dụng DHKH trong thực tiễn giáo dục ở bậc giáo dục đại học. Các nghiên cứu đều đưa ra các nhận định khá thống nhất về hiệu quả tích cực của DHKH đôi với nhận thức và kết quả học tập của người học, tuy nhiên để phù hợp với từng đối tượng và điều kiện học tập sẽ cần phải có những mô hình DHKH khác nhau.