chương I, điều 3, khoản 29 xác định: “Thông tin môi trường là số liệu, dữ liệu về môi trường dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự’’ [8].2 Cơ sở khoa học 2.2 Cơ sở pháp lý * Một số văn bản pháp luật liên quan tới ngành quản lý môi trường đang hiện hành ở Việt Nam - Căn cứ luật bảo vệ môi trường 2014 được quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Viêt Nam khoá thông qua ngày 23/06/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015. - Luật số 08/1998/ QH 10 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Tài nguyên nước. - Nghị định 59/2007/ NĐ - CP ngày 09/04/2007 về quản lí chất thải rắn của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi 2005. - Căn cứ nghị định 80/2006/NĐ - CP ngày 09/08/2006 hướng dẫn thực hiện luật BVMT.
- Căn cứ nghị định 81/2006/NĐ - CP ngày 09/08/2006 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. - Căn cứ theo quyết định Số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Chỉ thị số 2101/CT-TTG V/v triển khai một số biện pháp cấp bách khắc phục tình trạng thiếu nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong những tháng cuối năm 2009, đầu năm 2010. - Thông tư liên tịch số 80/2007/TTLT - BTC - BNN ngày 11/07/2007 của Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cho chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006 – 2010.
11 - Thông tư 27/2011/TT-BYT ngày 24/06/2011 về việc ban hành QCVN 01:2011/BYT -Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu - điều kiện bảo đảm vệ sinh. - Quyết định số 22/2006 QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc áp dụng TCVN về môi trường. - Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường trong Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.3 Cơ sở thực tiễn 2.1 Một số vấn đề môi trường cần quan tâm trên thế giới và Việt Nam 2.1 Một số vấn đề môi cần quan tâm trên thế giới. Môi trường không có biên giới vì một lẽ rất đơn giản là các thành phần của môi trường tự nhiên đều có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau.
Không khí hay đời sống của các động vật hoang dã không thể chia theo biên giới quốc gia được. Việc phá rừng ở các nước Châu Mỹ La tinh và Châu Á đang gây ra nạn lụt lội có sức tàn phá ngày càng lớn đối với các quốc gia nằm ở phía hạ lưu. Mưa axit và phóng xạ hạt nhân có thể xuyên biên giới của nhiều quốc gia. Những vấn đề môi trường toàn cầu là những vấn đề môi trường mà ảnh hưởng và tác hại của nó không chỉ giới hạn trong phạm vi của quốc gia gây ra vấn nạn môi trường mà còn có thể xuyên biên giới và đạt đến mức độ toàn cầu.
Nói đến toàn cầu bởi vì đây là những vấn đề mà cả thế giới đang quan tâm và cần phải giải quyết ở quy mô toàn cầu. Khi đề cập đến những vấn đề Môi trường toàn cầu, chúng ta cần chú ý đến ba đặc điểm sau: - Là những vấn đề lớn về mặt không gian, thời gian và tác động của chúng có thể kéo dài qua các thế hệ. 12 - Những vấn đề này không phải tách biệt và độc lập nhưng có quan hệ với nhau rất phức tạp. Ví dụ: Việc chặt phá và đốt rừng làm nương rẫy sẽ phá huỷ rừng, làm suy giảm tài nguyên đa dạng sinh học vì môi trường sống của sinh vật bị phá hủy.
Việc chặt phá và đốt rừng lại có tác động kép làm tăng lượng CO2 trong khí quyển: CO2 sinh ra do đốt cây và lượng CO2 trong khí quyển tăng lên do giảm sự hấp thụ CO2 khi diện tích rừng bị giảm. Một ví dụ khác của mối quan hệ phức tạp này là khi đốt các nhiên liệu hóa thạch như là dầu và than sẽ làm tăng lượng CO2 gây ra hiệu ứng nhà kính, đồng thời các khí NOx và SO2 sinh ra khi đốt sẽ góp phần gây ra mưa acid kéo theo sự hủy hoại rừng và các động thực vật, và còn nhiều mối quan hệ phức tạp khác. - Những vấn đề Môi trường toàn cầu phần lớn do chính con người là thủ phạm gây ra và cũng chính họ là những nạn nhân của các ảnh hưởng và tác hại của chúng. Con người đang sản xuất, tiêu thụ và loại thải một lượng lớn các sản phẩm và cũng đòi hỏi một lượng lớn về tài nguyên và năng lượng phục vụ cho việc sản xuất, tiêu thụ và loại thải chúng.
Đây là một trong những nguyên nhân chính của các vấn nạn Môi trường toàn cầu. * Sự nóng dần lên của trái đất - Theo kết quả nghiên cứu của Keeling thì trong 50 năm qua, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng khoảng 20%. Báo cáo lần thứ tư của IPCC năm 2007 đã cảnh báo rằng, “rất nhiều khả năng” là nồng độ CO2 trong khí quyển tăng lên là do các hoạt động của con người, khác với báo cáo lần thứ ba năm 2001 là “có khả năng”. Cũng theo báo cáo lần thứ tư của IPCC, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,7oC so với trước kia.
Do nóng lên toàn cầu, dù chỉ mới tăng 0,7oC mà trong những năm qua, thiên tai như bão tố, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng bất thường, cháy rừng. đã xẩy ra tại nhiều vùng trên thế giới, gây thiệt hại vô cùng nặng nề cho nhiều nước, nhưng ở 13 đâu, những người nghèo và nước nghèo cũng phải chịu đau khổ nhiều nhất. Trận bão Nargis đầu tháng 5 năm 2008 ở Myanma, với tốc độ gió hơn 200 km/giờ, đã phá hủy nhiều vùng rộng lớn, hơn 130.000 người chết và mất tích ở đất nước này là một ví dụ. Sự tăng nhiệt độ Trái đất quan sát được trong 50 năm qua là một bằng chứng mới lạ, được khẳng định là do ảnh hưởng của các hoạt động của con người và các hiện tượng bất thường về khí hậu tăng dần về tần số, cường độ và thời gian, như số ngày nóng sẽ nhiều hơn, nhiều đợt nắng nóng hơn, các đợt mưa to sẽ nhiều hơn, số ngày lạnh sẽ ít hơn trong những năm sắp tới, bão tố cùng ngày càng dữ dội hơn.
Mức độ thay đổi khí hậu cũng sẽ tùy thuộc vào từng vùng khác nhau, tuy nhiên, tất cả các vùng trên thế giới đều có thể bị tác động nhiều hay ít, nhưng hậu quả lớn nhất sẽ là ở các vùng nhiệt đới, nhất là tại các nước đang phát triển công nghiệp nhanh ở châu Á (Crutzen, 2005). Theo dự báo thì rồi đây, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt khí thải nhà kính, nhiệt độ mặt đất sẽ tăng lên thêm từ 1,8oC đến 6,4oC vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%, băng ở hai cực và các núi cao sẽ tan nhiều hơn, nhanh hơn, nhiệt độ nước biển ấm lên, bị giãn nở mà mức nước biển sẽ dâng lên khoảng 70-100 cm hay hơn nữa, và tất nhiên sẽ có nhiều biến đổi bất thường về khí hậu, thiên tai sẽ diễn ra khó lường trước được cả về tần số và mức độ ( Võ Qúy, 2011) [9]. * Tài nguyên nước đang bị cạn kiệt dần - Trái đất là một hành tinh xanh, có nhiều nước, nhưng 95,5% lượng nước có trên Trái đất là nước biển và đại dương. Lượng nước ngọt mà loài người có thể sử dụng được chỉ chiếm khoảng 0,01% lượng nước ngọt có trên Trái đất.
Cuộc sống của tất cả chúng ta và nhiều loài sinh vật khác phụ thuộc vào lượng nước ít ỏi đó. Lượng nước quý giá đó đang bị suy thoái một cách nhanh chóng do các hoạt động của con người và con người đang 14 phải vật lộn với sự thiếu hụt nước ngọt tại nhiều vùng trên thế giới. Biển Aral, nằm giữa Kazakhstan và Uzbekistan là một biển hồ nước mặn có hai con sông đổ vào là sông Arnu Darya và sông Syr Darya. Đây là hồ thiên nhiên rộng thứ tư trên thế giới, có diện tích hơn 66.
Nghề đánh cá tại biển Aral đã từng rất phát triển, với sản lượng hàng năm khoảng 60. Nhân dân địa phương đã được hưởng lợi rất nhiều từ biển hồ này. Nhờ có biển Aral mà độ ẩm và khí hậu vùng Trung Á này đã từng luôn ổn định, vì thế mà các loài sinh vật, động vật cũng như thực vật khá đa dạng. Tuy nhiên, hiện nay biển Aral đang có nguy cơ biến mất, không phải vào cuối thế kỷ mà có thể chỉ trong vòng khoảng mươi năm nữa thôi.
Nguyên nhân chính là do các hoạt động của con người trong thời gian gần đây. Những quyết định sai lầm về phát triển đã làm cho dòng chảy của sông vào biển bị giảm sút. Vào những năm 1950, để tăng sản lượng bông tại đây, một dự án táo bạo về thủy lợi đã được xây dựng nhằm tưới cho vùng khô hạn này để trồng bông. Kết quả đạt được thật khả quan, lượng bông sản xuất tại vùng này tăng nhanh từ 1,5 triệu tấn/năm vào những năm 1940 lên đến 5 triệu tấn vào năm 1986.
Mọi thứ hình như đã chứng tỏ là con người có thể làm chủ được thiên nhiên, làm thay đổi thiên nhiên để đem lại lợi ích cho xã hội. Tuy nhiên, vào những năm 1960, lượng nước ngọt từ các sông chảy vào biển Aral giảm dần và mức nước biển cũng hạ thấp (Asashi, 2010), (Võ Qúy, 2011) [9]. * Rừng – “lá phổi của Trái đất” – đang bị con người tàn phá - Rừng xanh trên thế giới che phủ khoảng một phần ba diện tích đất liền của Trái đất, chiếm khoảng 40 triệu km2 Tuy nhiên, các vùng rừng rậm tốt tươi đã bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây. Các hệ sinh thái rừng bao phủ khoảng 10% diện tích Trái đất, khoảng 30% diện tích đất liền.
Tuy nhiên, các vùng có rừng che phủ đã bị giảm đi khoảng 40% trong 15 vòng 300 năm qua và theo đó mà các loài động thực vật, thành phần quan trọng của các hệ sinh thái rừng, cũng bị mất mát đáng kể. Loài người đã làm thay đổi các hệ sinh thái một cách hết sức nhanh chóng trong khoảng 50 năm qua, nhanh hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây.