chương 1, luận văn đã trình bày lý do của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu cũng như mục tiêu mà nghiên cứu sẽ hướng đến gồm mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể, đưa ra các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu gồm định tính và định lượng được sử dụng trong bài. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài này cũng được trình bày. Kết cấu của luận văn được thiết kế làm năm chương của một nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng xoay quanh việc đánh giá ý định sử dụng dịch vụ thẻ của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Bảo Việt - CN Bình Dương. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ Ý ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 2.1 Khái niệm về ý định sử dụng dịch vụ Sự phát triển của khoa học công nghệ với nhiều sản phẩm ra đời nhằm phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng.
Nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của khách hàng đã trở nên thay đổi theo sự phát triển của công nghệ. Sản phẩm cần đáp ứng nhu cầu và sự hài lòng của khách hàng (Porter, 1980). Vì vậy, các nhà quản trị cần hiểu rõ về hành vi của người tiêu dùng để bán được nhiều sản phẩm và tối đa hóa lợi nhuận. Hành vi khách hàng là nghiên cứu về khách hàng cá nhân, nhóm hay các tổ chức; quá trình lựa chọn, gắn bó, sử dụng và loại bỏ các sản phẩm, dịch vụ hoặc quá trình thử nghiệm thỏa mãn các nhu cầu, mong muốn của khách hàng.
Nghiên cứu về hành vi của người dùng là khoa học nghiên cứu về sự cảm nhận, thái độ, hành động và ý định của người dùng liên quan đến sản phẩm, dịch vụ (Kauer, 2012). Vì vậy, việc nghiên cứu hành vi của người dùng nhằm giải thích quá trình mua hay không mua một loại sản phẩm, hàng hóa nào đó. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh cho thấy ý định sử dụng ảnh hưởng lớn đến hành vi sử dụng. Để thu hút được khách hàng sử dụng, các doanh nghiệp cần đánh giá được nhu cầu khách hàng, xây dựng chiến lược, các sản phẩm cung cấp phải đáp ứng được nhu cầu từ đó tác động đến ý định và làm cơ sở thu hút khách hàng sử dụng sản phẩm.
Khi nói về hành vi người tiêu dùng có nhiều quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu như nghiên cứu về quá trình tham gia khi các cá nhân hoặc các nhóm chọn, mua, sử dụng hoặc hủy bỏ các sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu và ham muốn của họ (Solomon, 1996); hành vi của người tiêu dùng còn là quá trình hoạt động của những người tham gia trong khi tìm kiếm, lựa chọn, mua sắm, sử dụng, đánh giá và xử lý các sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu, mong muốn của chính họ (Belch, 1998); theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA) cho 8 rằng hành vi người tiêu dùng là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người, chính sự tương tác đó giúp con người thay đổi cuộc sống của họ. Vậy hành vi của người tiêu dùng là kết quả của một quá trình trước, trong và sau khi tiến hành mua sắm, tiêu dùng. Hành vi này chịu tác động của nhiều yếu tố trong đó yếu tố sản phẩm, dịch vụ và các yếu tố môi trường tác động đến nhận thức của con người. Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng về dịch vụ, sản phẩm là việc nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ, vậy chấp nhận công nghệ là thái độ tích cực đối với một công nghệ có sẵn và sự kết hợp với ý định sử dụng công nghệ, nó tác động trực tiếp vào thời gian sử dụng, khi một sản phẩm sử dụng càng dài thì việc chấp nhận càng cao, khi đó ý định sử dụng càng mạnh mẽ hơn (Kauer, 2012).
Để hiểu rõ hơn về sự chấp nhận công nghệ và hành vi người dùng sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông qua các khái niệm: Ý định là một yếu tố dùng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi trong tương lai, thúc đẩy cá nhân sẵn sàng thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Ý định sử dụng là bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực của mỗi cá nhân bỏ ra để thực hiện hay ý định là hành động của con người được cân nhắc bởi ba yếu tố là niềm tin vào hành vi, sự ảnh hưởng xã hội và sự kiểm soát. Các niềm tin này càng mạnh thì ý định hành động của con người càng lớn (Ajzen, 2002). Ý định sử dụng sản phẩm, dịch vụ là sẵn sàng để thực hiện một hành động hướng đích, người tiêu dùng có ý định có nghĩa là sẽ có động cơ để thực hiện hành động, ra quyết định và ý định này xem việc sẽ sử dụng hay loại bỏ một sản phẩm, dịch vụ trong tương lai.
Điều này cho thấy ý định của người tiêu dùng tác động đến hành vi tiếp cận sản phẩm, dịch vụ của các tổ chức (Venkatesh và cộng sự, 2003). Theo Philip Kotler (1990), để đánh giá các phương án mua, người tiêu dùng luôn có các đánh giá về thương hiệu khác nhau và hình thành nên ý định mua. Việc 9 hình thành ý định mua dựa trên các yếu tố như thu nhập, sự mong đợi, giá bán mong đợi, tính năng mong đợi của sản phẩm mang lại. Qua các nghiên cứu trên cho ta khái niệm cơ bản về ý định sử dụng dịch vụ thẻ là động cơ để khách hàng thực hiện hành động sẽ sử dụng hay không sử dụng dịch vụ thẻ của ngân hàng, là mức độ mà người sử dụng có khả năng sử dụng thẻ ngân hàng trong tương lai và có thái độ tích cực với hệ thống, thiết bị sử dụng thẻ.2 Các lý thuyết nền về ý định sử dụng Các lý thuyết về hành vi người dùng được phát triển qua nhiều thập kỷ và các lý thuyết đó được kế thừa, phát triển và vận dụng qua nhiều đối tượng người dùng tương ứng với các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA - Theory of Reasoned Action) Thuyết hành động hợp lý (TRA) được xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi và thái độ theo thời gian bởi Ajzen (1985).
Trong mô hình TRA cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi. Có hai yếu tố được đề cập trong xu hướng là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng. Trong đó, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các lợi ích cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau.
Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó ta có thể dự đoán gần đến kết quả lựa chọn của người tiêu dùng. Nhân tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp; những người này thích hay không thích họ sử dụng. Mức độ tác động của nhân tố chuẩn chủ quan đến xu hướng của người tiêu dùng phụ thuộc vào mức độ ủng hộ hay phản đối với việc sử dụng của người tiêu dùng và động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng đến mình. 10 Hai yếu tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan là mức độ ảnh hưởng của những người có liên quan đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng và động cơ thúc đẩy làm theo những người có liên quan.
Mức độ thân thiết của những người có liên quan càng mạnh đối với người tiêu dùng sẽ ảnh hưởng càng lớn đến quyết định lựa chọn của họ. Khi xu hướng lựa chọn của người tiêu dùng càng lớn thì niềm tin của người tiêu dùng đối với những người có liên quan cũng bị ảnh hưởng theo. Ý định của người tiêu dùng sẽ bị tác động tùy theo mức độ mạnh yếu khác nhau bởi những người có liên quan. Trong mô hình thuyết hành động hợp lý cho ta thấy niềm tin của mỗi cá nhân người tiêu dùng về sản phẩm hay thương hiệu sẽ ảnh hưởng đến thái độ hướng đến hành vi và điều này sẽ ảnh hưởng đến xu hướng, nhưng không ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi.
Chúng ta có thể thấy xu hướng là yếu tố giải thích cho xu hướng hành vi của người tiêu dùng còn thái độ sẽ giải thích lý do dẫn đến xu hướng. Niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm. Thái độ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm. Ý định Niềm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên thực hiện hay không thực hiện hành vi.
Chuẩn chủ quan Sự thúc đẩy làm theo ý muốn của những người ảnh hưởng. Nguồn: Trích dẫn Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989 Hình 2.1 Thuyết hành động hợp lý - TRA 11 Mô hình TRA tương tự giống như mô hình thái độ ba thành phần nhưng mô hình này là sự kết hợp giữa ba thành phần nhận thức, cảm xúc và xu hướng được sắp xếp theo thứ tự khác với mô hình thái độ ba thành phần. Trong mô hình thái độ đa thuộc tính tương tự giống như cách đo lường thái độ trong mô hình TRA. Tuy nhiên, mô hình TRA sẽ giải thích chi tiết hơn so với mô hình đa thuộc tính do có thêm yếu tố chuẩn chủ quan.
Khi dự đoán việc thực hiện hành vi của người tiêu dùng đối với thuyết hành động hợp lý TRA sẽ bị giới hạn, đây là việc không thể kiểm soát được do mô hình này đã bỏ qua tầm quan trọng của yếu tố xã hội mà trong thực tế có thể là một yếu tố quyết định đối với hành vi cá nhân (Grandon & Peter P. Các yếu tố xã hội có nghĩa là tất cả các ảnh hưởng của môi trường xung quanh cá nhân như các chuẩn mực có thể ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân (Ajzen, 1991). Các yếu tố về thái độ đối với hành vi; chuẩn chủ quan không đủ cơ sở để giải thích cho hành động của người tiêu dùng.2 Thuyết hành vi dự định (TPB - Theory of Planned Behavoir) Thuyết hành động hợp lý TRA bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được, yếu tố về thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người tiêu dùng.