CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan đến luận án Theo Korenberg V. Sinh lý: hệ thống cơ thể, một cơ quan cụ thể, bộ phận, mô cơ thể, tế bào và các thành phần của nó dùng để làm gì đó 2. Sinh học xã hội: mục đích của con người, động vật, thực vật (như một loài, cá thể, các cộng đồng khác nhau của các cá nhân) trong một hệ thống sinh thái hoặc xã hội cụ thể đang được xem xét.
Sản xuất: a) nhiệm vụ làm việc trên từng vị trí, bao gồm cả học sinh; b) mục đích của đối tượng, thiết bị, đồ gá, máy móc c) mục đích của một hệ thống kiến thức, hệ thống đào tạo, quy trình cụ thể v. Toán học: a) một phương trình "biến phụ thuộc" - một biến có giá trị được xác định bởi các giá trị khác," biến độc lập", còn được gọi là đối số [63]. Suy yếu chức năng: Suy yếu “thiếu hụt” khả năng chức phận : 1) chung – là sự giảm một cách tương đối các khả năng chức phận chung so với các yêu cầu vận động của VĐV ở trình độ nhất định, trong môn thể thao nhất định; 2) theo mục tiêu – là suy yếu chức năng cụ thể đối với yêu cầu chức năng của một nhiệm vụ vận động cụ thể nào đó [63]. Chuẩn bị chức năng: Là một bộ phận thành phần của quá trình huấn luyện, bao gồm chuẩn bị thể lực, hình thành các kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản , tăng cường các phản ứng cơ bản và phân biệt vè cảm giác (cảm xúc), củng cố sức khỏe.
Đây là quá trình có mục đích để hình thành trình độ chức năng. Hiệu quả chuẩn bị chức năng, bên cạnh khả năng và năng khiếu của con người, sẽ do thời gian và phương pháp tiến hành quá trình chuẩn bị chức năng quyết định (theo nghĩa rộng là bao gồm cả cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo cho tập luyện, hồi phục thể lực, động cơ mục tiêu) [63]. Trình độ chuẩn bị chức năng: Là đặc điểm trạng thái tổng hợp của VĐV, bao gồm hệ thống: 1) Trình độ chuẩn bị thể lực, đó là mức độ phát triển các tố chất vận động (mức độ của mỗi một tố chất vận động không chỉ 6 phụ thuộc vào mức độ phát triển của tố chất đó mà còn vào mức độ hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo vận động chung, cơ bản tương ứng); 2) mức độ phát triển các hệ cơ quan đảm bảo sự sống của cơ thể , cho phép thực hiện các nhu cầu vận động cần thiết mà không làm ảnh hưởng đến sức khỏe; 3) mức độ bền vững cơ học của bộ máy vận động và các tổ chức, cơ quan trong cơ thể; 4) mức độ chuẩn bị về các lĩnh vực tâm lý : a) mức độ ngưỡng tuyệt đối và ngưỡng phân biệt về cảm xúc và nhận thức (nghĩa là độ nhạy cảm trong giải quyết và phân biệt); b) chất lượng khái niệm hình tượng (mức độ tương thích, chính xác , nhạy cảm trong phân biệt ); c) mức độ đánh giá nhận thức “dưới nhận thức/vô thức”; d) mức độ phản ứng tâm lý và vận động một cách tự động ; đ) mức độ trí nhớ vận động [63]. Hệ thống chức năng: 1.
Khái niệm do P.Anokhin, người xây dựng nên lý thuyết hệ thống chức năng đề xuất (chính xác hơn là nguyên lý hệ thốÌông chức năng). Hệ thống chức năng – là một kết cấu chức năng được hình thành trong cơ thể tương đối cố định, có khả năng được hoạt hóa dưới tác động của một kích thích (tín hiệu, yếu tố) nhất định. Hệ thống đó là một quá trình chứ không nên nhầm lẫn với các hệ thống cơ quan và tố chức khác của cơ thể. Các thành phần của hệ thống chức năng bao gồm: Bộ phận cảm thụ hướng tâm cho phép đánh giá hình thành và thay đổi tức thời tình huống bên ngoài như mô hình thực tế.
Bộ phận chương trình hóa hoạt động , bộ phận “hiệu ứng hoạt động ”. Mô hình hiệu ứng mong muốn và cơ chế đánh giá kết quả hoạt động thực tiễn và kỳ vọng mong muốn. 2) Quan niệm sinh lý khởi đầu: các hệ thống đảm bảo sự sống như tiêu hóa, hô hấp, tim mạch v. quan niệm khởi đầu này được áp dụng rộng rãi và cần quán triệt rõ ràng 2 thuật ngữ khác nhau nhưng không phải lúc nào cũng thực hiện được [63].
Trạng thái chức năng của VĐV: 1. Trạng thái có khả năng sử dụng có hiệu quả tiềm năng vận động sẵn có của VĐV. Trạng thái chức năng phụ thuộc vào trạng thái sức khoẻ, trình độ tập luyện, mức độ mỏi mệt, đặc điểm trạng thái tâm lý. Có các loại trạng thái chức năng hiện tại (nhìn chung là 7 trong thời gian tương đối dài – chu kỳ huấn luyện ngắn và trung bình) và tức thời (trong thời điểm một vài phút tức thời hoặc một vài giờ, 1-2 ngày ).
Khái niệm trạng thái chức năng hiện tại gần với khái niệm “trình độ chuẩn bị chức năng” khi không có những trang thái bệnh lý hoặc xúc động tâm lý. Khái niệm “trạng thái chức năng tức thời” chỉ khả năng chức năng ở thời điểm ngay giờ phút này và những biến động của chúng so với mức bình thường của trình độ tập luyện chung và những biến đổi được phép của chúng (như mệt mỏi, đau đầu). Khả năng chức năng của VĐV: Khái niệm đánh giá tổng hợp, có hệ thống về khả năng của VĐV trong việc thực hiện các nhiệm vụ vận động tương ứng với đặc điểm và trình độ vận động của mình như: mức độ phát triển các tố chất vận động hoặc đúng hơn là các tố chất chức năng vận động; kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản sẵn có và những khả năng tâm lý nhất định (cần có trong vận động ) và các chỉ số hình thái. Đó là mức hoạt động do trình độ chức năng của con người tạo ra trong điều kiện được chuẩn bị đầy đủ, có mục đích về kỹ chiến thuật và tâm lý [63].
Khuyết tật chức năng (Chức năng: theo tiếng latinh là thiếu hụt): 1). Hiện tượng khả năng chức năng không đầy đủ để thực hiên một nhiện vụ vận động cụ thể nào đó. 2) Mức khuyết tật thể hiện qua các chỉ số định tính hoặc định lượng [63]. Nhu cầu chức năng của nhiệm vụ vận động: Những yêu cầu tối thiểu đối với khả năng chức năng cụ thể của vận đông viên mà họ cần phải có để thực hiện được nhiệm vụ vận động khi thực hiện các phương án kỹ thuật cần thiết trong nhiệm vu vận động hoặc hệ thỗng hành động trong điều kiện áp dụng hoàn chỉnh phương án kỹ thuật có hiệu quả để thỏa mãn nhiệm vụ vận động; bất kỳ hoạt động thể thao nào có nhu cầu về khả năng chức năng có mục đích của con người [63].
Theo Lưu Quang Hiệp 8 Trạng thái chức năng là tổ hợp những đặc điểm chức năng sinh lý và các tính chất tâm sinh lý chịu tác động lớn nhất để đảm bảo hoạt động bình thường và chuyên môn cho cơ thể. Xuất phát từ khái niệm như vậy nên trạng thái chức năng không thể nghiên cứu xem xét thông qua một hoặc một số chỉ số riêng lẻ mà phải là sự đánh giá tổng hợp hàng loạt chức năng trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến việc thực hiện có hiệu quả hoạt động của cơ thể [16]. Theo chúng tôi, trình độ chuẩn bị chức năng là mức độ dự trữ chức năng của cơ thể được biểu hiện qua khả năng chịu đựng được lượng vận động nặng căng thẳng, kéo dài và khả năng hoạt động thể lực cao của cơ thể. Các quan điểm về đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên trong thể thao Việc đánh giá TĐTL của VĐV một cách có khoa học trong từng môn thể thao cho phép HLV có thông tin phản hồi khách quan về hướng huấn luyện đã lựa chọn.
Đối chiếu với tiêu chuẩn để điều chỉnh kế hoạch phù hợp đồng thời giúp VĐV có căn cứ tự đánh giá khả năng bản thân. Đến nay đã có nhiều quan điểm nhìn nhận về TĐTL trên các mặt chuyên môn khác nhau của tác giả trong nước cũng như ngoài nước, đã phân biệt TĐTL được xác định qua đánh giá mức thích ứng của cơ thể với các hoạt động chuyên môn ở môn thể thao lựa chọn Phân tích các tài liệu khoa học thu thập được ở trong nước và nước ngoài cho thấy có một số cách tiếp cận về TĐTL như sau: Theo Nôvicốp A.P, TĐTL chủ yếu liên quan đến những thay đổi về mặt sinh học thông qua sự thích ứng (về chức năng và hình thái) xảy ra trong cơ thể VĐV dưới tác động của lượng vận động tập luyện. Những thay đổi đó dẫn đến sự phát triển năng lực hoạt động của VĐV. Do đó, TĐTL là thước đo năng lực thích ứng của cơ thể với một hoạt động cụ thể đạt được qua tập luyện [19].V, yếu tố cơ bản của TĐTL là thành tích thể thao.
Do đó, ông cho rằng : ''Trình độ tập luyện là năng lực tiềm tàng của VĐV để đạt được những thành tích nhất định trong môn thể thao được lựa chọn và năng lực này biểu hiện cụ thể ở mức độ chuẩn bị về kỹ thuật thể thao, về thể lực, chiến thuật, đạo đức, ý chí và trí tuệ” [2]. Theo tác giả thì TĐTL càng cao thì VĐV càng có khả năng thực hiện được những nhiệm vụ nhất định với hiệu quả mỹ mãn hơn. Trình độ tập luyện chính là mức độ thích ứng của cơ thể đối với một nhiệm vụ cụ thể, đạt được bằng con đường tập luyện. Theo quan điểm của Dietrich Harre, “TĐTL của VĐV thể hiện ở sự nâng cao năng lực thể thao nhờ ảnh hưởng của lượng vận động tập luyện, lượng vận động thi đấu và các biện pháp bổ trợ khác” [2].
Thông qua lượng vận động tập luyện, lượng vận động thi đấu, trình độ từng yếu tố của năng lực thể thao (bao gồm các năng lực thể chất, năng lực phối hợp vận động, năng lực trí tuệ, kỹ xảo, kỹ thuật, năng lực chiến thuật và các phẩm chất tâm lý) một mặt được nâng cao, mặt khác giữa chúng cũng hình thành các mối quan hệ bền vững. Bên cạnh đó, việc phát huy đầy đủ các tiềm năng thể chất của VĐV thông qua sự nỗ lực ý chí ở mức cao nhất cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Năng lực thể thao cao nhất mà VĐV đạt được trong từng chu kỳ tập luyện phù hợp với TĐTL của họ được gọi là trạng thái sung sức thể thao.