Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1. Tổng quan về tình hình sản xuắt, tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam Trong khu vực châu A Thái Bình Dương (APAC), sản xuất lúa gạo của Việt Nam cũng có vai trò rất quan trọng. Theo thống kê của Hiệp hội xuất khâu gạo Thái Lan, Việt Nam và Campuchia chiếm 60% thị phần gạo xuất khẩu qua các nước ASEAN. Các nước Singapore, Malaysia, Philippines trước đây nhập khẩu gạo chủ yếu từ Thái Lan, nay đã chuyền sang nhập gạo Việt Nam (Hồ Cao Việt, 201 1).
Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, sau Thái Lan. Theo tính toán của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng sản xuất gạo toàn cầu 2019 ước khoảng 497,8 triệu tấn, giảm 0,3% so với 2018. Trong khi đó, Hội đồng ngũ cốc quốc tế (IGC) ước tính sản xuất gạo toàn cầu 2019 đạt 500,4 triệu tấn, giảm nhẹ so với 2018 (USDA, 2019). Có khoảng 55% sản lượng lúa gạo cả nước được sản xuất lại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), và năng suất trung bình hằng năm của vùng này là 5,98 tan/ha, cao hơn 38% so với năng suất trung bình toàn cầu (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2020).
Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 40. Đây là phần hạ lưu của sông Mê Kông, tổng dân số hơn 17 triệu người với 3,96 triệu ha cho các hoạt động nông nghiệp (Lê Anh Tuan, 2007). Có khoảng 55% sản lượng lúa gạo cả nước được sản xuất tại ĐBSCL, và năng suất trung bình hằng năm của khu vực này là 5,97 tan/ha (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2019). Đồng bằng sông Cửu Long đã phát huy lợi thế vựa lúa số một cả nước khi đóng góp hơn 90% lượng gạo xuất khâu của Việt Nam, góp phan khang định vai trò, vị thế xuất khẩu gạo tốp đầu thế giới của Việt Nam (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2019).
Tiền Giang thuộc Vùng Đồng bằng sông Cửu Long và là thành viên thứ 8 của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam. Theo Sở Nông Nghiệp và Phát Trién Nông Thôn tỉnh Tiền Giang năm 2020, tông diện tích xuống giống 136.032 ha, năng suất trung bình khoảng 5,93 tan/ha, sản lượng đạt 801. Sản lượng lúa vụ Đông Xuân đạt 373.970 tan và vụ Hè Thu đạt 413. Trong năm 2021, tinh Tiền Giang đầu tư trên 34,5 tỷ đồng mở rộng diện tích canh tác lúa ứng dụng công nghệ cao lên 4.000 ha; trong đó riêng vụ Đông Xuân là 1.400 ha, vụ Xuân Hè 700 ha và vụ Hè Thu 1.
Có dai va những thiệt hại do cỏ dai gay ra Co dại đã có từ lâu đời trong nông nghiệp và ngay từ đầu người nông dân đã nhận ra rằng sự hiện diện của những loài cỏ dai này đã cản trở sự phát triển của cây trồng chủ đích (Ghersa và ctv, 2000). Cỏ dai phát triển mạnh, mọc lộn xộn và tạo ra vô số hạt giống không có ích cho con người (Manning, 2004). Theo Rao và ctv (2007) nhận định: “Cỏ dại là những loài thực vật không mong muốn, cản trở việc sử dụng đất và tài nguyên nước và gây trở ngại cho hoạt động con người”. Theo Navas năm 1991 đã đưa các khía cạnh sinh học và sinh thái vào định nghĩa co dai: “Cỏ dai là những thực vật hình thành quần thể có khả năng xâm nhập vào các vùng canh tác, bị con người tác động và có khả năng làm suy giảm hoặc thay thế các quan thé hiện tại như cây trồng, mùa vu, hệ sinh thái hay cảnh quan”.
Bên cạnh đó, Aldrich và Kremer (1997) đã đưa ra một định nghĩa không phủ nhận tính hợp lệ của các định nghĩa khác nhưng đưa ra một hệ sinh thái mong muốn. Cỏ đại là “một loài thực vật có nguồn sốc trong môi trường tự nhiên và đề đáp ứng với môi trường tự nhiên hoặc áp đặt, đã tiến hóa và tiếp tục làm như vậy, như một tác nhân can thiệp vào cây trồng và các hoạt động canh tác của con người”. Theo định nghĩa này, cỏ dại được công nhận là một phần của “hệ sinh thái động”. Ngoài ra, Crawley (1997) nhận ra những khó khăn trong việc xác định cỏ đại, và sự đa dạng của nó là môi quan tâm đáng kê.
Tác động của cỏ dại giả định trong hệ sinh thái có thé được ước tính về các mục tiêu quản lý như thiết lập các điều kiện sinh tồn, tối đa hóa sự đa dang của loài, hoặc duy trì động lực học. Theo Dương Văn Chín và Hoàng Anh Cung (2005), cỏ dại là một loại dịch hại phổ biến trên ruộng lúa ở Việt Nam. Thiệt hại do cỏ dại đã làm giảm năng suất lúa một cách có ý nghĩa về mặt kinh tế. Quan lý cỏ dai một cách khoa học dé ổn định và nâng cao năng suất, cũng như chất lượng lúa gạo là một yêu cầu quan trọng trong sản xuất lúa gạo.
Hơn nữa, cỏ dại là ký chủ của sâu bệnh hại. Các cây cỏ dại cùng họ, bộ hay có những đặc điểm giống cây trồng là những ký chủ phụ rất tốt cho sâu bệnh. Ngoài việc làm ký chủ, cỏ dại còn tạo điều kiện sinh thái thích hợp cho sự phát triển của sâu bệnh. Ruộng có nhiều cỏ dai, âm độ và nhiệt độ cũng thay đổi, thường thuận lợi cho sâu bệnh phát triển (Nguyễn Hữu Trúc, 2012).
Nói chung, cỏ dại có tác động tiêu cực đến năng suất cây trồng và có thể cản trở sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng thông qua các cơ chế gây bệnh và cạnh tranh (đối với nước, chất dinh dưỡng, ánh sáng và không gian). Trong ruộng lúa hiếu khí, sự phát triển không kiểm soát của cỏ đại có thé làm giảm năng suất lên đến 96% (Chauhan & Johnson 2011). Tổng quan về có chác (F. Phân loại thực vật Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Liliopsida Bộ: Cyperales Họ: Cyperaceae Chi: Fimbristylis Loai: Fimbristylis miliacea 1.
Nguồn gốc, phân bố và đặc điểm hình thai Có chác (F.), có nguồn sốc từ châu Mỹ nhiệt đới và ở Brazil, chúng thường xuyên xuất hiện hơn ở bờ biển phía nam, nhưng nó cũng được tìm thấy ở các vùng khác như Amazon (Kissmann, 2007). Loài này là một loài cỏ dại chủ yếu trên các ruộng lúa ở Bang Santa Catarina và nó có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng về năng suất nếu không được kiểm soát thích hợp (Noldin va ctv, 2002). Cỏ chác có phạm vi phân bố ở hầu hết các nước nhiệt đới và có mặt ở 21 nước trồng lúa. Cỏ chác thường sinh ra lượng hạt rất lớn và thích nghi với điều kiện âm hoặc ngập nước không thường xuyên nên cỏ xâm nhiễm với mật độ rất cao trên các ruộng lúa sạ.
Do có bộ rễ phát triển nhanh, đôi khi bộ rễ còn phát triển nhanh hơn rễ lúa, chúng bao quanh hoặc xuyên vào giữa bộ rễ lúa dé hút thức ăn. Theo ước tính, thiệt hại do cỏ chác gây ra khoảng 50% năng suất lúa sạ. Cỏ chác mọc theo vụ, cao từ 20 - 70 cm. Than det ở phần dưới, ở phần ngọn chẻ gốc 4 - 5 ở phần ngọn.
Lá mảnh, chỉ mọc ở gốc thân, thường phủ vảy, dài khoảng 3,5 mm, rộng | - 2,5 mm. Lá trên thân có phiến lá rất ngắn. Cụm hoa kép 2 - 3 lần, phân nhánh nhiều. Phát hoa màu nâu hay vàng rơm.
Quả màu ngà hoặc nâu, bế quả 3 góc, sinh sản bằng hạt. Thích hợp với đất lúa nước (Dương Văn Chín và Hoàng Anh Cung, 2005).) (Nguồn: https://www.com) Cỏ chác có thể sinh ra một lượng hạt rất lớn, khoảng 10. Phần lớn hạt không trải qua giai đoạn ngủ nghỉ mà có thể mọc ngay sau rụng. Trong một số điều kiện thời tiết bất thuận, hạt cũng trải qua thời kỳ ngủ nghỉ nhưng rất ngắn.
Hạt cỏ chác ưa nảy mam trong điều kiện âm độ bão hòa hoặc ngập nước nhưng không thường xuyên. Khi mực nước cao đến 5 cm, hạt vẫn có khả năng nảy mầm nhưng thời gian nảy mầm kéo dài tới 7 ngày (Chi cục BVTV Cần Thơ, 2011) Trên đồng ruộng, cỏ có thể mọc mầm sau khi làm đất 3 - 4 ngày. Trong điều kiện ngập nước thường xuyên, cỏ không thể mọc được. Ánh sáng cũng rất cần cho quá trình phát triển của hạt cỏ, do vậy những hạt cỏ bị lớp đất mặt che phủ thường kém nảy mam hơn.
Mực nước trong ruộng khoảng 3 - 5 cm thích hợp cho cây con sinh trưởng. Trên đồng ruộng, cỏ chác có thé hoàn thành chu kỳ sống trong vòng 60 - 70 ngày. Tuy nhiên, trong một số trường hợp bắt thuận ở giai đoạn đầu, những cây cỏ mọc sau có thé rút ngắn thời gian sinh trưởng xuống 45 - 50 ngày (Chi cục BVTV Cần Tho, 2011). Theo nghiên cứu của Mahfuza begumi, 2008, cây con F.
miliacea xuất hiện sau 3 ngày kể từ khi gieo hạt. Khoảng thời gian cần thiết dé cây ra 10 lá, đẻ nhánh, 10 chùm hoa đầu tiên và thời gian trưởng thành của chúng lần lượt là 28 ngày sau khi trỗ. Cỏ chác phát triển mạnh nhất ở 6 - 25 ngày sau sa lúa, nhưng đỉnh điểm vào thời gian 10-20 ngày sau sa lúa (Chemical innovation Co. Tính kháng thuốc trừ cỏ của cô dại Hiệp hội Khoa học Co dại Hoa Kỳ (WSSA) định nghĩa khả năng kháng thuốc trừ cỏ là “khả năng đi truyền của thực vật để tồn tại và sinh sản sau khi tiếp xúc với một liều lượng thuốc trừ cỏ.
Ủy ban hoạt động kháng thuốc trừ cỏ toàn cầu (HRAC) đã thành lập đưa ra một hệ thống phân loại cho các chất trừ cỏ dựa trên xác định hoặc không xác định được các kiểu tác động (MoAs) (HRAC, 2017). Kháng thuốc trừ cỏ là khả năng tự nhiên của một nòi sinh học (biotype) cỏ dại để tồn tại khi sử dụng một loại thuốc trừ cỏ thông thường sẽ tiêu diệt nó. Hàng trăm trường hợp kháng thuốc trừ cỏ đã được ghi nhận ở hơn 100 loài cỏ dại trên khắp thế giới. Những loài cỏ dại này đang gây ra những thách thức cho người trồng và ngành nông nghiệp (HRAC, 2017).
Một môi quan tâm chính liên quan đên khả năng kháng thuôc trừ cỏ của cỏ đại là các dạng sinh vật kháng thuôc có thê có giá trị thích nghi cao hơn so với các dạng nhạy cảm, dẫn đến khả năng cạnh tranh và xâm lấn lớn hơn (Ellstrand, 1999). Chronological Increase in Resistant Weeds Globally @ ALS Inhibitors E Trazires § ACCase Inhibitors m@ Synthetic Auxins @ Bipyridiliums TM@ Glycines m Ureas, Amides ® Dintromilines SoNupmebfcirs sọc qoe s06 gi£Y gat<! g6£\ Goch o0 s06 ove \ Hình 1. Sự gia tăng số loài cỏ đại kháng thuốc (Nguồn: Heap, 2017).