Đặt vấn đề Để tài trợ cho đầu tƣ và chi tiêu công, các chính phủ có thể gia tăng vay mƣợn hoặc đánh thuế cao hơn cho sản lƣợng đầu ra của nền kinh tế. Tuy nhiên, đánh thuế cao sẽ bóp méo cấu trúc giá cả, tạo ra các vấn đề vốn giữa các thế hệ, và thậm chí nó có thể gây ra sự chuyển dịch nguồn lực vốn đầu tƣ ra khỏi quốc gia. Do đó, các chính phủ thƣờng phải vay mƣợn nợ để tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Nợ công hiện đang đóng một vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, chi đầu tƣ phát triển ở Việt Nam.
Tuy nhiên, với sự thâm hụt ngân sách kéo dài, vay nợ liên tục qua phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trƣờng nội địa, và vay mƣợn nợ ƣu đãi từ nƣớc ngoài đã dẫn đến tỷ lệ nợ trên GDP tăng nhanh. Trong 4 năm từ 2010 đến 2014, nợ công của Việt Nam đã tăng gấp đôi từ 889 nghìn tỷ đồng lên trên 1,8 triệu tỷ đồng (gần 86 tỷ USD chiếm 60,3% GDP)1. Tỷ lệ nợ công cao và tăng nhanh đã đặt ra các câu hỏi về tính an toàn của nợ công ở Việt Nam. Ở các quốc gia đang phát triển, nợ nội địa ít đƣợc quan tâm so với nợ nƣớc ngoài.
Phát hành nợ nội địa sẽ giúp quốc gia tránh đƣợc những cú sốc không mong muốn từ khu vực kinh tế bên ngoài, và loại bỏ rủi ro tỷ giá. Tuy nhiên, nợ nội địa có thể tạo hiệu ứng chèn lấn đầu tƣ tƣ nhân. Khi chính phủ vay mƣợn trong thị trƣờng nội địa, họ sử dụng khoản tiết kiệm tƣ nhân cho các hoạt động đầu tƣ, phúc lợi. Số vốn còn lại trên thị trƣờng cho vay sẽ sụt giảm làm gia tăng chi phí tiếp cận nguồn vốn đối với những ngƣời đi vay tƣ nhân.
Điều này làm giảm dần nhu cầu đầu tƣ tƣ nhân, vì vậy tích lũy vốn cũng nhƣ tăng trƣởng kinh tế bị suy giảm. Nhƣ vậy nợ nội địa đƣợc đánh giá là có chi phí đắt đỏ so với những khoản vay ƣu đãi của thị trƣờng vốn bên ngoài, điều này có thể khiến cho nợ nƣớc ngoài gia tăng nhanh chóng và nó cũng tiềm tàng nhiều rủi ro cho nền kinh tế. 1 Bản tin nợ công số 4, Bộ Tài chính MoF (2016) 2 Ở Việt Nam, nợ nƣớc ngoài có khuynh hƣớng gia tăng nhanh trong những năm gần đây cũng tiềm tàng nguy cơ khủng hoảng nợ. Nợ sẽ trở nên kém an toàn nếu lãi suất thế giới tăng tƣơng đối so với lãi suất trong nƣớc, hoặc khi đồng tiền trong nƣớc bị phá giá hay lạm phát trong nƣớc cao tƣơng đối so với thế giới.
Một thách thức đối với Việt Nam hiện nay là làm sao để duy trì đƣợc tăng trƣởng cao và bền vững. Cuộc khủng hoảng 2008 đã cho thấy Việt Nam dễ bị tổn thƣơng hơn trƣớc những biến động của thị trƣờng thế giới khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Đặc biệt, quá trình này cũng làm bộc lộ rõ hơn những điểm yếu cố hữu của nền kinh tế Việt Nam, đó là mô hình tăng trƣởng phụ thuộc nhiều vào đầu tƣ công, tín dụng và yếu tố vốn, lao động. Việc vay nợ của Việt Nam thời gian qua cũng không ngoài mục đích hỗ trợ cho đầu tƣ để kích thích tăng trƣởng.
Tuy nhiên, việc vay nợ ở Việt nam có thực sự thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế hay chỉ làm gia tăng gánh nặng trả nợ là một câu hỏi cần xem xét. Đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây xem xét mối quan hệ giữa nợ công và tăng trƣởng kinh tế. Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu là không đồng nhất. Nhiều nghiên cứu cho thấy nợ có tác động tiêu cực đến tăng trƣởng Cunningham (1993), Siddiqui và Malik (2001), Alfredo Schclanek (2004), Safia & Shabbir (2009), Andrea F Presbitero (2010), Vanlalramsanga (2012).
Một số khác lại cho thấy nợ có tác động tích cực đến tăng trƣởng Singh (1999), Muhammad Ayyoub (2012. Gần đây, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa nợ và tăng trƣởng kinh tế Chowdhury (2001), Pattilo (2002), Carmen M. Reinhart và Kenneth S. Rogoff (2010), Natia Kutivadze (2011), Checherita và Rother (2012), Hemantha Kumara, N.
Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa nợ và tăng trƣởng. Nguyễn Hoàng Bảo và Đoàn Kim Thành (2009) đã cho thấy tác động tuyến tính tiêu cực của nợ với tăng trƣởng. Sử Đình Thành (2012) phân tích mối quan hệ tuyến tính và tìm ra ngƣỡng nợ công cho Việt Nam là 75,8% GDP. Có thể thấy các nghiên cứu trƣớc đây tại Việt Nam dựa trên nhiều cách tiếp cận khác nhau và kết 3 quả thu đƣợc cũng không thống nhất.
Nghiên cứu này một lần nữa nhằm xem xét mối quan hệ giữa nợ công với tăng trƣởng kinh tế ở Việt Nam. Trong bối cảnh nợ công tăng nhanh nhƣ hiện nay và rủi ro nợ công tăng cao, việc đánh giá tính an toàn của nợ là không thể bỏ qua. Do đó, nghiên cứu cũng đồng thời đánh giá tính bền vững nợ công trong giai đoạn hiện nay và đƣa ra một số kịch bản nợ có thể xảy ra trong các năm tới. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm xem xét tính bền vững của nợ công Việt Nam đồng thời tìm hiểu mối quan hệ giữa quy mô nợ và tốc độ tăng trƣởng kinh tế ở Việt Nam.
Từ đó đƣa ra những gợi ý và để xuất nhằm tăng hiệu quả sử dụng nợ cũng nhƣ nâng cao tính bền vững của nợ công Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu này bao gồm 2 câu hỏi nghiên cứu: Nợ công Việt Nam liệu có bền vững trong hiện tại và tƣơng lai gần? Trong bối cảnh Việt Nam, nếu tồn tại mối quan hệ giữa quy mô nợ công và tăng trƣởng kinh tế thì mối quan hệ này diễn ra nhƣ thế nào? 1. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu này đƣợc tiến hành cho Việt Nam trong giai đoạn 1990-2015. Đối tƣợng nghiên cứu là nợ công và tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam.
Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng nhiều khung phân tích và mô hình khác nhau để đánh giá tính bền vững của nợ công bao gồm khung phân tích nợ bền vững theo quan điểm của Ngân hàng Thế Giới (WB) và Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF năm 2006, cây nhị phân của Manasse và Roubini (2005), và mô hình hệ phƣơng trình đồng thời dạng tĩnh lƣợc của Jaim de Pines (1989). 4 Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy có trọng số (weighted least squares regression) để đánh giá mối quan hệ giữa nợ công và tăng trƣởng kinh tế trong trƣờng hợp của Việt Nam. Bên cạnh nợ công, các biến vĩ mô khác cũng đƣa vào xem xét trong một tổng thể các yếu tố có thể ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế. Cấu trúc luận văn Nghiên cứu bao gồm 5 chƣơng.
Chƣơng 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chƣơng 2 trình bày các khái niệm và lý thuyết liên quan đến nợ công, nợ bền vững, tăng trƣởng kinh tế và các kết quả nghiên cứu về tác động của quy mô nợ công đến tốc độ tăng trƣởng kinh tế của các tác giả trên thế giới. Chƣơng 3 trình bày thực trạng và đánh giá tính bền vững của nợ công Việt Nam. Chƣơng 4 trình bày nghiên cứu thực nghiệm đánh giá mối quan hệ giữa nợ và tăng trƣởng tại Việt Nam.
Chƣơng 5 đƣa ra kết luận và gợi ý chính sách. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chƣơng này của nghiên cứu nhằm mục tiêu hệ thống hóa các lý thuyết về nợ công và tăng trƣởng, đồng thời trình bày tổng quan các lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của nợ công đến tăng trƣởng kinh tế. Nợ công Nợ công là nợ của khu vực công. Nợ công phát sinh do chi tiêu của các cấp chính quyền lớn hơn các khoản thu nên phải vay nợ đề bù đắp những chênh lệch.
Do đó, quy mô thâm hụt của nợ công thƣờng đúng bằng quy mô của thâm hụt ngân sách tích lũy qua các năm. Phần này sẽ trình bày khái niệm, các cách phân loại và rủi ro của nợ công. Khái niệm nợ công Nợ công có thể hiểu một cách đơn giản là nợ của khu vực công. Cần phải phân biệt giữa nợ công và nợ quốc gia.
Nợ quốc gia là nợ của các đối tƣợng mang quốc tịch của một quốc gia, bao gồm cả nợ của khu vực công và nợ khu vực tƣ nhân không đƣợc bảo lãnh. Hiện nay có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về nợ công. Theo cách tiếp cận của World Bank (2002), nợ công đƣợc định nghĩa là tổng tất cả các khoản nợ trong nƣớc và nƣớc ngoài của khu vực công bao gồm chính phủ trung ƣơng và các bộ; các bang, tỉnh thành hoặc các cấp chính quyền địa phƣơng tƣơng đƣơng; các cơ quan nhà nƣớc tự điều hành nhƣ doanh nghiệp nhà nƣớc hoặc các doanh nghiệp liên doanh với tƣ nhân mà nhà nƣớc sở hữu phần lớn; các nghĩa vụ nợ của các tổ chức công cộng nằm ngoài chính quyền trung ƣơng bất kể có sự bảo đảm hay không bảo đảm của chính phủ. Theo IMF (2010), nợ công là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công.
Kèm theo là định nghĩa chi tiết về khu vực công, bao gồm chính phủ và các tổ chức công 6 Khu vực công Khu vực Khu vực các tổ chính phủ chức công chính phủ Các tổ chức công Các tổ chức công Trung ƣơng phi tài chính tài chính Chính quyền Ngân hàng Liên bang Trung ƣơng Chính quyền Các tổ chức nhà Địa phƣơng nƣớc nhận tiền gửi (trừ NHTW) Các tổ chức tài chính công khác Hình 2.1: Các thành phần của khu vực công theo định nghĩa của IMF Nguồn: IMF (2013), Public Sector Debt Statistics. Guide for Compilers and Users2 Ở Việt Nam, theo Luật quản lý nợ công, số 29/2009/QH123 của Quốc hội ban hành vào năm 2009, nợ công bao gồm: (a) Nợ chính phủ; (b) nợ đƣợc chính phủ bảo lãnh và (c) nợ chính quyền địa phƣơng. Trong đó: - Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nƣớc, nƣớc ngoài, đƣợc ký kết, phát hành nhân danh Nhà nƣớc, nhân danh chính phủ 2 http://www.org/pdf/method/2013/psds2013.pdf (trang 8) 3 http://www.vn/vn/Pages/VanBanDieuHanh.aspx?TypeVB=1&vID=9518 7 hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.