Chương 1: Khung lý thuyết về nợ công Chương 2: Nợ công tại Việt Nam và đánh giá tính bền vững nợ công Việt Nam giai đoạn 2012-2020. Chương 3: Các giải pháp khuyến nghị nâng cao tính bền vững nợ công cho Việt Nam CHƢƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG 1. Thâm hụt ngân sách 1. Khái niệm Với các nguồn thu từ phí, lệ phí, thuế cùng với dự trữ quốc gia, bộ máy Nhà nước đã thực hiện các hoạt động đầu tư công nhằm đưa nền kinh tế- xã hội đi lên.
Nếu như Chính phủ chi tiêu vượt quá các khoản thu được trong một giai đoạn nhất định sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách. Do vậy, thâm hụt ngân sách ( hay còn được gọi là bội chi ngân sách nhà nước) có thể được hiểu một cách đơn giản là việc chi tiêu vượt quá các khoản thu ( không mang tính hoàn trả) trong cân đối ngân sách Nhà nước trong một giai đoạn nhất định. Nền kinh tế- chính trị thế giới vẫn đang tồn tại những bất ổn với diễn biến phức tạp. Điều này tác động trực tiếp lên vấn đề thâm hụt ngân sách, nợ công ở hầu hết các quốc gia bao gồm cả các nước phát triển và các nước đang phát triển, ở hầu hết các giai đoạn của nền kinh tế.
Thâm hụt ngân sách được phân thành hai loại là thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kì. Thâm hụt cơ cấu xuất phát từ các khoản thâm hụt do chính sách thu nhập và chi tiêu của Chính phủ như giảm thuế, trợ cấp bảo hiểm xã hội, tăng chi cho giáo dục, y tế, quốc phòng. Thâm hụt chu kì là việc ngân sách bị thâm hụt nguyên do từ biến động chu kì kinh tế. Đa số các quốc gia đều chấp nhận bội chi ngân sách ở một mức độ nhất định.
Điều này nhằm giúp Chính phủ sử dụng linh hoạt hơn chính sách tài khóa để tác động tới nền kinh tế và đảm bảo các mục tiêu xã hội. Việc mở rộng tài khóa của Chính phủ nhằm mục đích đầu tư nếu được quản lí hiệu quả sẽ tạo ra giá trị kinh tế- xã hội lớn hơn so với việc vay nợ ở thời điểm hiện tại. Những phƣơng thức bù đắp thâm hụt ngân sách Về cơ bản, việc một quốc gia rơi vào tình trạng thâm hụt ngân sách xuất phát từ các nguyên nhân chính như : thất thu thuế Nhà nước, đầu tư công kém hiệu quả, Nhà nước huy động vốn để kích cầu, qui mô chi tiêu của Chính phủ quá lớn,. Do đó, việc khắc phục mang tính cơ bản phải xuất phát từ việc cải thiện các nguồn thu hoặc cắt giảm bớt chi tiêu.
Việc thu thuế để làm tăng các khoản thu sẽ bù đắp cho khoản thiếu hụt của bội chi ngân sách. Tuy vậy, để không làm triệt tiêu động lực sản xuất kinh doanh của các công ty, doanh nghiệp trong nước, dẫn đến giá cả hàng hóa tăng vọt gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân, Chính phủ cần phải tính toán chặt chẽ và thật phù hợp khi đưa ra chính sách tăng thuế. Nhà nước nên xem xét thêm vấn đề giảm thiểu chi tiêu để tập trung vào những dự án lớn,chủ chốt, đem lại năng suất cao, thiết thực, tạo ra bước nhảy lớn cho nền kinh tế- xã hội. Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước cần đánh giá lại các mục chi tiêu cũng như cắt giảm những mục chi tiêu gây tốn kém nhưng chưa thực sự hợp lí và cần.
Bên cạnh đó, việc bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách trong ngắn hạn cũng được thực hiện thường xuyên qua phương thức vay nợ từ trong nước và quốc tế. Chính phủ thực hiện vay nợ trong nước bằng cách phát hành các công cụ nợ và kí kết các khoản cho vay. Đối với vay nợ quốc tế thì có thể được thực hiện bằng phương thức phát hành trái phiếu. Việc gia tăng vay nợ để bù đắp cho bội chi ngân sách trong thời gian dài là nguyên nhân chính dẫn đến nợ công tăng nhanh.
Trong một số trường hợp nhất định, Nhà nước lựa chọn cách phát hành thêm tiền để chi tiêu. Tuy cách này có thể giảm thâm hụt ngân sách nhanh chóng nhưng nếu lạm dụng trong thời gian dài sẽ dẫn tới lạm phát do tạo thêm một lượng lớn cơ sở tiền tệ vượt qua khả năng sản xuất của cả nền kinh tế. Do vậy, biện pháp này chỉ được sử dụng rất hạn chế hoặc đi kèm theo đó là các điều kiện nghiêm ngặt. Những vấn đề cơ bản nợ công 1.
Khái niệm về nợ công Nợ công hay còn gọi là nợ chính phủ hoặc nợ quốc gia có rất nhiều các khái niệm khác nhau. Nó có thể được hiểu ngắn gọn là tất cả các khoản nợ mà Chính phủ các cấp đi vay trong và ngoài nước nhằm bù đắp sự thiếu hụt trong ngân sách và đầu tư phát triển cho sự nghiệp quốc gia. Nợ công do Nhà nước chịu trách nhiệm trả trực tiếp hoặc gián tiếp. Nợ chính phủ được đánh giá bằng cơ cấu nợ trong nước (do người trong nước tài trợ) và nợ nước ngoài (do người ngoài nước cho vay).
Hoạt động vay vốn của Chính phủ được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất và kỳ hạn ưu đãi để thu hút sự đầu tư của các tổ chức, cá nhân. Trong các loại trái phiếu trên thị trường, TPCP được coi là hấp dẫn nhất bởi rủi ro gần như bằng không, đặc biệt là phát hành bằng nội tệ vì Chính phủ vì có thể thanh toán cả gốc lẫn lãi của khoản nợ khi đáo hạn bằng cách tăng thu thuế hay in tiền. Ngược lại, TPCP phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) mang rủi ro tín dụng cao hơn do không phải Chính phủ nào cũng có đủ lượng dự trữ ngoại hối để thanh toán, chưa kể đến sự biến động không thể lường trước của tỷ giá hối đoái. Bên cạnh việc phát hành trái phiếu để vay nợ, Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các NHTM và các thể chế TCQT, ví dụ như IMF… Sở dĩ khi trái phiếu Chính phủ của các nước có xếp hạng tín dụng thấp không nhận được đủ độ tín nhiệm, dẫn đến khả năng duy động vốn không cao, việc đi vay trực tiếp mới diễn ra.
Dựa trên thời hạn một quốc gia có quyền trì hoãn việc thanh toán một khoản nợ, nợ công được chia ra làm ba loại gồm ngắn hạn (dưới 1 năm), trung hạn (từ 1 đến dưới 10 năm) và dài hạn (từ 10 năm trở lên). Bên cạnh việc tài trợ cho thâm hụt của ngân sách nhà nước, mục tiêu cao nhất của khoản vay này hướng tới lợi ích chung chứ không nhằm phục vụ riêng tổ chức hay cá nhân nào, biểu hiện thông qua sự đầu tư vào nền kinh tế, hỗ trợ sự phát triển của xã hội. Do đó, có thể nói thâm hụt ngân sách là bắt nguồn của nợ công và là lũy kế của nợ công khi đến một thời điểm cụ thể nào đó. Điều này xảy ra khi Chính phủ phải chi tiêu một khoản tiền lớn hơn tổng thu của quốc gia đó, dẫn tới ngân sách bị bội chi quá mức.
Để tiếp tục trang trải cho việc điều hành đất nước, khắc phục những thiếu hụt và duy trì sự ổn định của nền kinh tế, Nhà nước không thể in tiền bởi sẽ làm lạm phát tăng cao. Thay vào đó, Chính phủ các nước sẽ phải huy động các khoản vay từ trong nước và nước ngoài, mà trong đó, vay từ các thể chế trong nước luôn có rủi ro thấp hơn. Khoản vay này là nguồn tài trợ mạnh mẽ giúp củng cố và hỗ trợ vào nguồn vốn để các quốc gia nâng cao cơ sở hạ tầng và mở rộng quy mô đầu tư, đồng thời thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn tài chính nhàn rỗi từ các tổ chức, cá nhân trong quốc gia cùng với sự quan tâm của bạn bè song phương, cụ thể là các khu vực ngoài nước và các thể chế TCQT. Quy mô của nợ công thường được đo lường dựa trên tỷ trọng của nó trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Nợ công thường được nhìn nhận là nghĩa vụ trả nợ mà Chính phủ của một quốc gia trực tiếp hay gián tiếp đều có liên quan bởi nó bắt nguồn từ nhu cầu chi tiêu ngân sách của Chính phủ. Khi Nhà nước chi thường xuyên, viện trợ, đầu tư… để thực hiện chức năng của mình trong nền kinh tế, sẽ xuất hiện các khoản phát sinh ngoài dự kiến làm cho tổng thu vượt quá những gì thu được. Khi đó, việc đi vay nợ trở nên vô cùng cần thiết để đưa bội chi về mức có thể kiểm soát, giúp Chính phủ thanh toán nợ gốc và lãi khi khoản nợ đáo hạn. So với việc tăng thu thuế, nhiều người sẽ cho rằng đây là hai phương pháp khác nhau, nhưng thực chất chúng chỉ khác nhau về thời gian và đối tượng mà Nhà nước chọn để đánh thuế.
Đi vay xét về bản chất chỉ là cách nói khác của thâm hụt ngân sách hay đánh thuế dần dần, là lấy nguồn tài chính của tương lai để dùng cho hiện tại. Vay nợ là sự lựa chọn của Chính phủ của hầu hết các quốc gia khi đối mặt với tình trạng ngân sách hụt thu tăng chi. Khoản nợ do Chính phủ đi vay do chính người dân gồng gánh, và càng thế hệ sau thì gánh nặng nợ công đầu người ngày càng lớn. Theo luật quản lý nợ công năm 2017, Việt Nam quy định ba cấu phần của nợ công gồm nợ của chính phủ, nợ chính phủ bảo lãnh (CPBL) và nợ chính quyền địa phương (CQĐP).
Trong đó, nợ của chính phủ được hiểu là khoản vốn vay mà Chính phủ nhân danh ký kết theo quy định, qua đó huy động được nguồn vốn trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên không phải khoản nợ nào cũng được Chính phủ bảo lãnh. Nợ Chính phủ bảo lãnh bao gồm nợ của doanh nghiệp cùng các ngân hàng chính sách do Nhà nước đi vay và nhận được sự bảo lãnh của Chính phủ. Khác với hai loại nợ trên, nợ của chính quyền địa phương không do chính phủ đi vay mà do UBND cấp tỉnh đứng ra vay.
Nợ CQĐP có thể được hình thành qua việc phát hành hay ủy quyền phát hành trái phiếu CQĐP, các khoản viện trợ không hoàn lại, nguồn tài trợ ưu đãi từ nước ngoài hay nợ NSĐP vay từ các NHCS và ngân quỹ của Nhà nước và quỹ dự trữ cấp tỉnh và các khoản nợ khác theo quy định của luật này.