Đánh Giá Tính Bền Vững Của Nợ Công Ở Việt Nam Giai Đoạn 2012-2020

Chuyên khảo phân tích Đánh giá tính bền vững của nợ công ở việt nam giai đoạn 2012 2020, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học

2021

80
8
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG

1.1. Thâm hụt ngân sách

1.2. Những phương thức bù đắp thâm hụt ngân sách

1.3. Những vấn đề cơ bản nợ công

1.4. Các khái niệm về nợ công và phân loại nợ công

1.5. Cách xác định nợ công và rủi ro nợ công

1.6. Các chỉ số đánh giá bền vững nợ công

1.7. Các vấn đề về bền vững nợ công

1.8. Bền vững nợ công. Các chỉ số đánh giá bền vững nợ công

1.9. Tác động của thâm hụt ngân sách và nợ công tới các biến số vĩ mô

1.9.1. Tác động tới lạm phát

1.9.2. Tác động tới lãi suất

1.9.3. Tác động tới hệ thống tài chính ngân hàng

1.9.4. Tác động tới tỉ giá

1.9.5. Tác động tới tăng trưởng kinh tế

1.10. Các phương pháp đánh giá bền vững nợ công

1.10.1. Khung phân tích bền vững nợ của WB và IMF

1.10.2. Mô hình cây nhị phân của Manasse và Roubini

2. CHƯƠNG 2: NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG NỢ CÔNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2020

2.1. Thực trạng nợ công và bền vững nợ công tại Việt Nam

2.2. Các chỉ tiêu giới hạn nợ công

2.3. Thực trạng bội chi ngân sách tại Việt Nam

2.4. Thực trạng nợ công. Đánh giá tính bền vững nợ công Việt Nam giai đoạn 2012-2020

2.4.1. Theo mô hình cây nhị phân của Manasse và Roubini

2.4.2. Theo khung phân tích bền vững nợ của IMF và WB

2.5. Xác định gánh nặng nợ công của Việt Nam 2012-2020

2.6. Xác định chỉ số CI của Việt Nam

2.7. Kết quả nghiên cứu theo khung đánh giá DSF (2017) của IMF và WB

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO TÍNH BỀN VỮNG NỢ CÔNG CHO VIỆT NAM

3.1. Một số đánh giá chung từ nghiên cứu thực trạng

3.2. Các giải pháp khuyến nghị nâng cao tính bền vững nợ công Việt Nam

3.2.1. Bổ sung và hoàn thiện khung pháp lí về nợ công

3.2.2. Thay đổi cơ cấu nợ công

3.2.3. Sử dụng hiệu quả nợ công và giám sát chặt chẽ các khoản vay. Đảm bảo hiệu quả phối hợp giữa các chính sách

3.2.4. Quản lí rủi ro nợ công

3.2.5. Xây dựng nguồn thu NSNN bền vững, chống thất thu thuế

3.2.6. Cơ cấu lại các khoản chi NSNN

3.2.7. Chủ động cập nhật thông tin

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nợ Công Việt Nam Giai Đoạn 2012 2020

Nợ công là yếu tố then chốt trong tài chính quốc gia, thể hiện qua việc Chính phủ vay vốn trong và ngoài nước để bù đắp bội chi ngân sách và thúc đẩy đầu tư. Giai đoạn 2017-2019, nợ công Việt Nam giảm từ 61,4% xuống 55% GDP, tương đương 3,5 triệu tỷ đồng (số liệu cuối năm 2019). Dự kiến năm 2020, do ảnh hưởng của Covid-19, tỷ lệ này tăng nhẹ nhưng vẫn trong ngưỡng an toàn. Tuy nhiên, theo IMF, nếu tính cả nợ của DNNN, con số này có thể vượt mức cho phép. Việc giải ngân vốn đầu tư công chậm và nghĩa vụ trả nợ tăng là những thách thức. Việt Nam chuyển sang nước thu nhập trung bình đồng nghĩa với việc tiếp cận các khoản vay thương mại với lãi suất cao hơn. Do đó, nghiên cứu về tính bền vững nợ công là cấp thiết.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Quản Lý Nợ Công Hiệu Quả

Quản lý nợ công hiệu quả là yếu tố sống còn cho sự ổn định kinh tế vĩ mô. Việc sử dụng nợ công không hiệu quả có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính và giảm tăng trưởng kinh tế. Các khoản vay cần được đầu tư vào các dự án có khả năng sinh lời cao và tạo ra nguồn thu ngân sách ổn định. Bên cạnh đó, cần giám sát chặt chẽ các khoản vay để tránh rủi ro nợ công.

1.2. Thách Thức Đối Với Tính Bền Vững Nợ Công Việt Nam

Việc gia tăng vay nợ để bù đắp bội chi ngân sách trong thời gian dài là nguyên nhân chính dẫn đến nợ công tăng nhanh. Bên cạnh đó, việc Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình đồng nghĩa với việc phải chấp nhận các khoản vay thương mại với lãi suất cao hơn. Điều này tạo ra áp lực lớn lên khả năng thanh toán nợ của Việt Nam.

II. Thực Trạng Nợ Công và Bội Chi Ngân Sách Việt Nam 2012 2020

Bội chi ngân sách là tình trạng chi tiêu vượt quá thu nhập của Chính phủ. Thâm hụt ngân sách thường do thất thu thuế, đầu tư công kém hiệu quả hoặc quy mô chi tiêu Chính phủ quá lớn. Theo tài liệu nghiên cứu, việc khắc phục cần bắt đầu bằng cách cải thiện nguồn thu và cắt giảm chi tiêu. Trong ngắn hạn, Chính phủ có thể vay nợ trong và ngoài nước. Tuy nhiên, lạm dụng vay nợ có thể dẫn đến lạm phát và tăng nhanh nợ công. Do đó, việc quản lý bội chi ngân sách là rất quan trọng để đảm bảo tính bền vững nợ công.

2.1. Các Phương Thức Bù Đắp Thâm Hụt Ngân Sách Hiện Nay

Các phương thức bù đắp thâm hụt ngân sách bao gồm: tăng thuế, giảm chi tiêu công, vay nợ trong và ngoài nước, phát hành thêm tiền. Tuy nhiên, mỗi phương thức đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Việc tăng thuế có thể làm giảm động lực sản xuất kinh doanh. Việc phát hành thêm tiền có thể dẫn đến lạm phát. Do đó, Chính phủ cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định lựa chọn phương thức bù đắp thâm hụt ngân sách.

2.2. Ảnh Hưởng Của Bội Chi Ngân Sách Lên Nợ Công

Bội chi ngân sách là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nợ công tăng nhanh. Khi Chính phủ chi tiêu vượt quá thu nhập, Chính phủ phải vay nợ để bù đắp khoản thâm hụt này. Do đó, việc quản lý bội chi ngân sách là rất quan trọng để đảm bảo tính bền vững nợ công.

III. Phương Pháp Đánh Giá Tính Bền Vững Nợ Công Việt Nam

Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp chính để đánh giá nợ công: Mô hình cây nhị phân của Manasse và Roubini và Khung phân tích bền vững nợ (DSF) của WBIMF. Mô hình cây nhị phân giúp xác định khả năng xảy ra khủng hoảng nợ. Khung DSF đánh giá khả năng thanh toán nợquản lý rủi ro nợ. Các chỉ số như tỷ lệ nợ công/GDP, khả năng trả nợ, cấu trúc nợlãi suất nợ được phân tích. Nghiên cứu cũng xem xét tác động của các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm pháttỷ giá đến tính bền vững nợ công.

3.1. Ưu Điểm Của Mô Hình Cây Nhị Phân Trong Đánh Giá Nợ

Mô hình cây nhị phân (Binary Recursive Tree - BRT) của Manasse và Roubini cho phép phân tích rủi ro khủng hoảng nợ dựa trên các biến số kinh tế vĩ mô. Mô hình này đơn giản, dễ sử dụng và cho phép ước lượng khả năng xảy ra các kịch bản khác nhau liên quan đến nợ công.

3.2. Khung Phân Tích Bền Vững Nợ Của IMF Và WB DSF

Khung phân tích bền vững nợ (Debt Sustainability Framework - DSF) của IMFWB là công cụ toàn diện để đánh giá tính bền vững của nợ công. Khung này bao gồm phân tích định lượng và định tính, đánh giá rủi ro và đưa ra khuyến nghị chính sách.

3.3. Các Chỉ Số Đánh Giá Bền Vững Nợ Công Quan Trọng

Các chỉ số quan trọng trong đánh giá bền vững nợ công bao gồm: tỷ lệ nợ công/GDP, tỷ lệ nợ chính phủ/thu ngân sách nhà nước, khả năng trả nợ, cấu trúc nợ, lãi suất nợ, và các chỉ số về rủi ro nợ công.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Đánh Giá Nợ Công Việt Nam 2012 2020

Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù nợ công Việt Nam đã giảm trong giai đoạn 2017-2019, nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các yếu tố như bội chi ngân sách, giải ngân đầu tư công chậm, nghĩa vụ trả nợ tăng, và việc chuyển sang vay thương mại với lãi suất cao tạo áp lực lên tính bền vững nợ công. Phân tích theo mô hình cây nhị phân cho thấy Việt Nam có thể tránh được khủng hoảng nợ trong ngắn hạn, nhưng tính bền vững dài hạn còn nhiều thách thức. Khung DSF của IMFWB cũng chỉ ra những điểm cần cải thiện trong quản lý nợ công.

4.1. Đánh Giá Theo Mô Hình Cây Nhị Phân Của Manasse Roubini

Phân tích theo mô hình cây nhị phân cho thấy Việt Nam có thể tránh được khủng hoảng nợ trong ngắn hạn, nhưng tính bền vững dài hạn còn nhiều thách thức. Cần chú trọng các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến khả năng trả nợ.

4.2. Kết Quả Phân Tích Theo Khung Nợ DSF Của IMF Và WB

Khung DSF của IMFWB cũng chỉ ra những điểm cần cải thiện trong quản lý nợ công, bao gồm việc tăng cường minh bạch, nâng cao hiệu quả đầu tư công, và giảm rủi ro nợ.

V. Giải Pháp Nâng Cao Tính Bền Vững Nợ Công Việt Nam

Để đảm bảo tính bền vững nợ công, cần có các giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, cần hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nợ công. Thứ hai, cần thay đổi cơ cấu nợ công, giảm phụ thuộc vào nợ nước ngoài. Thứ ba, cần nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công và giám sát chặt chẽ các khoản vay. Thứ tư, cần đảm bảo phối hợp hiệu quả giữa các chính sách tài khóachính sách tiền tệ. Thứ năm, cần quản lý rủi ro nợ công một cách chủ động. Cuối cùng, cần xây dựng nguồn thu NSNN bền vững và cơ cấu lại các khoản chi NSNN.

5.1. Hoàn Thiện Khung Pháp Lý Về Nợ Công Tại Việt Nam

Việc hoàn thiện khung pháp lý về nợ công là yếu tố then chốt để đảm bảo quản lý nợ công hiệu quả. Cần có các quy định rõ ràng về quy trình vay nợ, sử dụng nợ, và giám sát nợ.

5.2. Quản Lý Rủi Ro Nợ Công Chủ Động Và Hiệu Quả

Quản lý rủi ro nợ công chủ động và hiệu quả là rất quan trọng để giảm thiểu các tác động tiêu cực của nợ công đến kinh tế Việt Nam. Cần có các công cụ và quy trình để xác định, đánh giá và giảm thiểu rủi ro nợ.

5.3. Tăng Cường Kiểm Soát Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước

Kiểm soát chặt chẽ bội chi ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng để giảm áp lực lên nợ công và đảm bảo tính bền vững tài chính. Cần có các giải pháp để tăng thu ngân sách, tiết kiệm chi tiêu, và nâng cao hiệu quả đầu tư công.

VI. Triển Vọng Và Khuyến Nghị Chính Sách Về Nợ Công Việt Nam

Với những thách thức và cơ hội, tương lai của nợ công Việt Nam phụ thuộc vào khả năng quản lý hiệu quả. Cần tiếp tục theo dõi sát sao tình hình kinh tế thế giới và có các biện pháp ứng phó kịp thời. Nghiên cứu này khuyến nghị Chính phủ tiếp tục thực hiện các giải pháp đã nêu, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác. Việc đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nợ công là rất quan trọng để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và công chúng.

6.1. Khuyến Nghị Về Chính Sách Tài Khóa Trung Và Dài Hạn

Cần xây dựng chính sách tài khóa trung và dài hạn bền vững, tập trung vào tăng thu ngân sách, tiết kiệm chi tiêu, và nâng cao hiệu quả đầu tư công. Đồng thời, cần có các giải pháp để giảm bội chi ngân sách và kiểm soát nợ công.

6.2. Nâng Cao Minh Bạch Và Trách Nhiệm Trong Quản Lý Nợ

Nâng cao minh bạch và trách nhiệm trong quản lý nợ công là rất quan trọng để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và công chúng. Cần công khai thông tin về nợ công, sử dụng nợ, và hiệu quả đầu tư.

23/05/2025
Đánh giá tính bền vững của nợ công ở việt nam giai đoạn 2012 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khung lý thuyết về nợ công Chương 2: Nợ công tại Việt Nam và đánh giá tính bền vững nợ công Việt Nam giai đoạn 2012-2020. Chương 3: Các giải pháp khuyến nghị nâng cao tính bền vững nợ công cho Việt Nam CHƢƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG 1. Thâm hụt ngân sách 1. Khái niệm Với các nguồn thu từ phí, lệ phí, thuế cùng với dự trữ quốc gia, bộ máy Nhà nước đã thực hiện các hoạt động đầu tư công nhằm đưa nền kinh tế- xã hội đi lên.

Nếu như Chính phủ chi tiêu vượt quá các khoản thu được trong một giai đoạn nhất định sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách. Do vậy, thâm hụt ngân sách ( hay còn được gọi là bội chi ngân sách nhà nước) có thể được hiểu một cách đơn giản là việc chi tiêu vượt quá các khoản thu ( không mang tính hoàn trả) trong cân đối ngân sách Nhà nước trong một giai đoạn nhất định. Nền kinh tế- chính trị thế giới vẫn đang tồn tại những bất ổn với diễn biến phức tạp. Điều này tác động trực tiếp lên vấn đề thâm hụt ngân sách, nợ công ở hầu hết các quốc gia bao gồm cả các nước phát triển và các nước đang phát triển, ở hầu hết các giai đoạn của nền kinh tế.

Thâm hụt ngân sách được phân thành hai loại là thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kì. Thâm hụt cơ cấu xuất phát từ các khoản thâm hụt do chính sách thu nhập và chi tiêu của Chính phủ như giảm thuế, trợ cấp bảo hiểm xã hội, tăng chi cho giáo dục, y tế, quốc phòng. Thâm hụt chu kì là việc ngân sách bị thâm hụt nguyên do từ biến động chu kì kinh tế. Đa số các quốc gia đều chấp nhận bội chi ngân sách ở một mức độ nhất định.

Điều này nhằm giúp Chính phủ sử dụng linh hoạt hơn chính sách tài khóa để tác động tới nền kinh tế và đảm bảo các mục tiêu xã hội. Việc mở rộng tài khóa của Chính phủ nhằm mục đích đầu tư nếu được quản lí hiệu quả sẽ tạo ra giá trị kinh tế- xã hội lớn hơn so với việc vay nợ ở thời điểm hiện tại. Những phƣơng thức bù đắp thâm hụt ngân sách Về cơ bản, việc một quốc gia rơi vào tình trạng thâm hụt ngân sách xuất phát từ các nguyên nhân chính như : thất thu thuế Nhà nước, đầu tư công kém hiệu quả, Nhà nước huy động vốn để kích cầu, qui mô chi tiêu của Chính phủ quá lớn,. Do đó, việc khắc phục mang tính cơ bản phải xuất phát từ việc cải thiện các nguồn thu hoặc cắt giảm bớt chi tiêu.

Việc thu thuế để làm tăng các khoản thu sẽ bù đắp cho khoản thiếu hụt của bội chi ngân sách. Tuy vậy, để không làm triệt tiêu động lực sản xuất kinh doanh của các công ty, doanh nghiệp trong nước, dẫn đến giá cả hàng hóa tăng vọt gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân, Chính phủ cần phải tính toán chặt chẽ và thật phù hợp khi đưa ra chính sách tăng thuế. Nhà nước nên xem xét thêm vấn đề giảm thiểu chi tiêu để tập trung vào những dự án lớn,chủ chốt, đem lại năng suất cao, thiết thực, tạo ra bước nhảy lớn cho nền kinh tế- xã hội. Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước cần đánh giá lại các mục chi tiêu cũng như cắt giảm những mục chi tiêu gây tốn kém nhưng chưa thực sự hợp lí và cần.

Bên cạnh đó, việc bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách trong ngắn hạn cũng được thực hiện thường xuyên qua phương thức vay nợ từ trong nước và quốc tế. Chính phủ thực hiện vay nợ trong nước bằng cách phát hành các công cụ nợ và kí kết các khoản cho vay. Đối với vay nợ quốc tế thì có thể được thực hiện bằng phương thức phát hành trái phiếu. Việc gia tăng vay nợ để bù đắp cho bội chi ngân sách trong thời gian dài là nguyên nhân chính dẫn đến nợ công tăng nhanh.

Trong một số trường hợp nhất định, Nhà nước lựa chọn cách phát hành thêm tiền để chi tiêu. Tuy cách này có thể giảm thâm hụt ngân sách nhanh chóng nhưng nếu lạm dụng trong thời gian dài sẽ dẫn tới lạm phát do tạo thêm một lượng lớn cơ sở tiền tệ vượt qua khả năng sản xuất của cả nền kinh tế. Do vậy, biện pháp này chỉ được sử dụng rất hạn chế hoặc đi kèm theo đó là các điều kiện nghiêm ngặt. Những vấn đề cơ bản nợ công 1.

Khái niệm về nợ công Nợ công hay còn gọi là nợ chính phủ hoặc nợ quốc gia có rất nhiều các khái niệm khác nhau. Nó có thể được hiểu ngắn gọn là tất cả các khoản nợ mà Chính phủ các cấp đi vay trong và ngoài nước nhằm bù đắp sự thiếu hụt trong ngân sách và đầu tư phát triển cho sự nghiệp quốc gia. Nợ công do Nhà nước chịu trách nhiệm trả trực tiếp hoặc gián tiếp. Nợ chính phủ được đánh giá bằng cơ cấu nợ trong nước (do người trong nước tài trợ) và nợ nước ngoài (do người ngoài nước cho vay).

Hoạt động vay vốn của Chính phủ được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất và kỳ hạn ưu đãi để thu hút sự đầu tư của các tổ chức, cá nhân. Trong các loại trái phiếu trên thị trường, TPCP được coi là hấp dẫn nhất bởi rủi ro gần như bằng không, đặc biệt là phát hành bằng nội tệ vì Chính phủ vì có thể thanh toán cả gốc lẫn lãi của khoản nợ khi đáo hạn bằng cách tăng thu thuế hay in tiền. Ngược lại, TPCP phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) mang rủi ro tín dụng cao hơn do không phải Chính phủ nào cũng có đủ lượng dự trữ ngoại hối để thanh toán, chưa kể đến sự biến động không thể lường trước của tỷ giá hối đoái. Bên cạnh việc phát hành trái phiếu để vay nợ, Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các NHTM và các thể chế TCQT, ví dụ như IMF… Sở dĩ khi trái phiếu Chính phủ của các nước có xếp hạng tín dụng thấp không nhận được đủ độ tín nhiệm, dẫn đến khả năng duy động vốn không cao, việc đi vay trực tiếp mới diễn ra.

Dựa trên thời hạn một quốc gia có quyền trì hoãn việc thanh toán một khoản nợ, nợ công được chia ra làm ba loại gồm ngắn hạn (dưới 1 năm), trung hạn (từ 1 đến dưới 10 năm) và dài hạn (từ 10 năm trở lên). Bên cạnh việc tài trợ cho thâm hụt của ngân sách nhà nước, mục tiêu cao nhất của khoản vay này hướng tới lợi ích chung chứ không nhằm phục vụ riêng tổ chức hay cá nhân nào, biểu hiện thông qua sự đầu tư vào nền kinh tế, hỗ trợ sự phát triển của xã hội. Do đó, có thể nói thâm hụt ngân sách là bắt nguồn của nợ công và là lũy kế của nợ công khi đến một thời điểm cụ thể nào đó. Điều này xảy ra khi Chính phủ phải chi tiêu một khoản tiền lớn hơn tổng thu của quốc gia đó, dẫn tới ngân sách bị bội chi quá mức.

Để tiếp tục trang trải cho việc điều hành đất nước, khắc phục những thiếu hụt và duy trì sự ổn định của nền kinh tế, Nhà nước không thể in tiền bởi sẽ làm lạm phát tăng cao. Thay vào đó, Chính phủ các nước sẽ phải huy động các khoản vay từ trong nước và nước ngoài, mà trong đó, vay từ các thể chế trong nước luôn có rủi ro thấp hơn. Khoản vay này là nguồn tài trợ mạnh mẽ giúp củng cố và hỗ trợ vào nguồn vốn để các quốc gia nâng cao cơ sở hạ tầng và mở rộng quy mô đầu tư, đồng thời thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn tài chính nhàn rỗi từ các tổ chức, cá nhân trong quốc gia cùng với sự quan tâm của bạn bè song phương, cụ thể là các khu vực ngoài nước và các thể chế TCQT. Quy mô của nợ công thường được đo lường dựa trên tỷ trọng của nó trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Nợ công thường được nhìn nhận là nghĩa vụ trả nợ mà Chính phủ của một quốc gia trực tiếp hay gián tiếp đều có liên quan bởi nó bắt nguồn từ nhu cầu chi tiêu ngân sách của Chính phủ. Khi Nhà nước chi thường xuyên, viện trợ, đầu tư… để thực hiện chức năng của mình trong nền kinh tế, sẽ xuất hiện các khoản phát sinh ngoài dự kiến làm cho tổng thu vượt quá những gì thu được. Khi đó, việc đi vay nợ trở nên vô cùng cần thiết để đưa bội chi về mức có thể kiểm soát, giúp Chính phủ thanh toán nợ gốc và lãi khi khoản nợ đáo hạn. So với việc tăng thu thuế, nhiều người sẽ cho rằng đây là hai phương pháp khác nhau, nhưng thực chất chúng chỉ khác nhau về thời gian và đối tượng mà Nhà nước chọn để đánh thuế.

Đi vay xét về bản chất chỉ là cách nói khác của thâm hụt ngân sách hay đánh thuế dần dần, là lấy nguồn tài chính của tương lai để dùng cho hiện tại. Vay nợ là sự lựa chọn của Chính phủ của hầu hết các quốc gia khi đối mặt với tình trạng ngân sách hụt thu tăng chi. Khoản nợ do Chính phủ đi vay do chính người dân gồng gánh, và càng thế hệ sau thì gánh nặng nợ công đầu người ngày càng lớn. Theo luật quản lý nợ công năm 2017, Việt Nam quy định ba cấu phần của nợ công gồm nợ của chính phủ, nợ chính phủ bảo lãnh (CPBL) và nợ chính quyền địa phương (CQĐP).

Trong đó, nợ của chính phủ được hiểu là khoản vốn vay mà Chính phủ nhân danh ký kết theo quy định, qua đó huy động được nguồn vốn trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên không phải khoản nợ nào cũng được Chính phủ bảo lãnh. Nợ Chính phủ bảo lãnh bao gồm nợ của doanh nghiệp cùng các ngân hàng chính sách do Nhà nước đi vay và nhận được sự bảo lãnh của Chính phủ. Khác với hai loại nợ trên, nợ của chính quyền địa phương không do chính phủ đi vay mà do UBND cấp tỉnh đứng ra vay.

Nợ CQĐP có thể được hình thành qua việc phát hành hay ủy quyền phát hành trái phiếu CQĐP, các khoản viện trợ không hoàn lại, nguồn tài trợ ưu đãi từ nước ngoài hay nợ NSĐP vay từ các NHCS và ngân quỹ của Nhà nước và quỹ dự trữ cấp tỉnh và các khoản nợ khác theo quy định của luật này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Tính Bền Vững Của Nợ Công Việt Nam Giai Đoạn 2012-2020" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình nợ công của Việt Nam trong khoảng thời gian này, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công và những thách thức mà quốc gia phải đối mặt. Bài viết không chỉ nêu rõ các chỉ số tài chính quan trọng mà còn đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện quản lý nợ công, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về tác động của nợ công đến nền kinh tế.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng asymmetric impact of public debt on economic growth empirical evidence from vietnam, nơi phân tích tác động không đối xứng của nợ công đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ tác động tuyến tính và phi tuyến tính của nợ công đến tăng trưởng kinh tế bằng chứng ở các nước đang phát triển cũng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về tác động của nợ công ở các nước đang phát triển, giúp bạn có thêm bối cảnh và so sánh với tình hình của Việt Nam. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.