Chương 1 TỔNG QUAN CHUNG 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 1. Các nghiên cứu về tác dụng cây dược liệu 1. Trên thế giới Từ 2000 năm trước đã có một nền y học uyên bác, được truyền lại bằng các tài liệu có giá trị.
“Bản thảo” của Thần Nông được xem là y văn cổ xưa nhất của Trung Hoa và của cả thế giới. Ông cũng được nhân dân tôn vinh là chúa tể của nền Y dược học cổ truyền Trung Quốc. Lý Thời Trân (1518-1593) là một nhà dược học rất uyên bác, ông đã có những công trình nghiên cứu rất đáng khâm phục và có giá trị đến ngày nay. Trong bản thảo cương mục ông đã nghiên cứu 1871 vị thuốc, trong đó có 1074 về thực vật, ông còn nhiều công trình nghiên cứu, siêu tầm về dược liệu làm phong phú thêm cho kho tàng thảo dược của Trung Quốc.
Thời kỳ Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu Phương Tây như Crévost, Pétélot đã xuất bản bộ “Catalogue des produits de L’Indochine” (1928- 1935) và bộ “Les plantes de médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước Đông Dương. Manju Panghal và cs. (2010) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng tại huyện Jhajjar, bang Haryana, Ấn độ. Kết quả cho thấy có 57 loài cây thuốc được sử dụng, thuộc 51 chi và 35 họ thực vật.
Trong đó có 19 loài thuộc 13 họ có tác dụng chữa trị rắn cắn. Có 48 loài thuộc 34 họ được sử dụng để chữa trị các bệnh khác. Phân theo dạng sống có 20 loài cây thân thảo (36%), 16 loài cây gỗ (28%), 10 loài dây leo (18%), 9 loài cây bụi (16%) và 1 loài thân bò (2%). Những họ có số loài nhiều nhất là họ Đậu (Fabaceae) 8 loài, họ Loa kèn (Liliaceae) 5 loài, họ Hoa môi (Laminaceae) và họ Cúc (Asteraceae) mỗi họ có 3 loài.
Harsha và cs. (2002) nghiên cứu tri thức thực vật dân tộc tại huyện Uttara Kannada, bang Karnataka Ấn Độ. Kết quả cho thấy có 45 loài cây thuộc 26 họ được cộng đồng người Kunabis sử dụng làm thuốc. Các loài được sử dụng để chữa trị một số bệnh như sốt, ho, bệnh ngoài da, thấp khớp, rắn cắn, bệnh vàng da, kiết lỵ,… Luan van 4 Parinitha và cs.
(2005) nghiên cứu kiến thức sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng tại huyện Shimoga, bang Karnataka, Ấn độ. Kết quả cho thấy có 47 loài thực vật thuộc 46 chi trong 28 họ được sử dụng để điều trị 9 bệnh nhiễm trùng và 16 bệnh không truyền nhiễm. Mười hai tuyên bố mới về kiến thức ethnomedical đã được báo cáo và có công thức mà là tương tự như mô tả đã có trong văn học. Muthu và cs.
(2006) nghiên cứu cây thuốc được sử dụng bởi các thầy lang ở Kancheepuram, bang Tamil, Ấn độ. Kết quả cho thấy, những thầy lang sử dụng 85 loài thực vật thuộc 76 chi và 41 họ để điều trị các bệnh khác nhau. Các cây thuốc đã được ghi nhận chủ yếu được sử dụng để chữa trị các bệnh về da, độc cắn, đau bụng và rối loạn thần kinh. Uniyal và cs.
(2006) nghiên cứu tri thức sử dụng cây thuốc của các bộ lạc ở khu vực phía Tây dãy Himalaya. Kết quả cho thấy, có 35 loài thực vật thường được sử dụng bởi người dân địa phương trong việc chữa các bệnh khác nhau. Có đến 45% loài cây, người dân đã sử dụng phần dưới đất để làm thuốc. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, công tác nghiên cứu về cây dược liệu được tiến hành từ rất sớm, gắn liền với tên tuổi của các danh y nổi tiếng như: Tuệ Tĩnh hay Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỹ XIV).
Ông còn để lại tài liệu “Nam dược trị nam nhân’’. Về việc chữa trị ông chú trọng việc phòng bệnh hơn chữa bệnh, ngoài việc sử dụng thuốc nam để phục vụ rộng rải mọi tầng lớp nhân dân, ông đã vận dụng trung y một cách sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam. Ông còn viết sách bằng chử nôm cho mọi người dễ nhớ, dễ hiểu, có thể tự học thuốc và học cách chữa bệnh bằng các dược liệu có sẳn. Tuệ Tỉnh là người có công rất lớn trong việc mở rộng y học đại chúng, nêu cao tinh thần dân tộc độc lập và ý thức tự lực cánh sinh.
Vì những công trạng trên, nên được nhân dân tôn ông là tổ sư của ngành dược Việt Nam. Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1721-1792) là một danh y nổi tiếng, ông chú trọng đến 3 vấn đề là y đức, thuốc nam và phương pháp chữa bệnh. Ông chủ trương dùng những phương pháp chữa bệnh đơn giản để có thể phổ biến rộng rãi, chú trọng đến những phương pháp không dùng thuốc như xông hơi, chăm cứu. Ông chuyển sang dùng thuốc nam và thu thập những kinh nghiệm dùng thuốc trong nhân Luan van 5 dân để làm ra những bài thuốc mới có giá trị hơn.
Ông đã biên soạn trong 26 năm bộ sách thuốc “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” gồm 28 tập, 68 quyển, ông được nhân dân tôn là ông tổ của Ngành y Việt Nam. Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các cây thuốc và vị thuốc để chữa bệnh như: Đỗ Tất Lợi (2006) trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” giới thiệu 800 cây để làm thuốc; Sách “Cây thuốc Việt Nam” của Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây thuốc; TheoVõ Văn Chitrong cuốn “Từ Điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả cây thuốc nhập nội… Theo tài liệu của Viện Dược liệu (2002) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc. Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên. Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ.
Trong những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây. Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô (Viện Dược Liệu, 2002). Các nghiên cứu liên quan đến bảo tồn cây dược liệu 1.
Trên thế giới Bảo tồn đa dạng sinh học đặc biệt các loài thực vật làm thuốc là vấn đề toàn cầu, không chỉ riêng các quốc gia mà của các tổ chức quốc tế (IUCN, WWF, FAO, WHO,…). Theo Akerele (1991) vấn đề bảo tồn cây dược liệu ở các quốc gia chính là sự nhận biết và bảo tồn giá trị sử dụng chúng trong y học dân tộc. Đề cập đến bảo tồn những loài cây dược liệu đang bị đe dọa, Hamann (1991) cũng cho rằng không có cách nào khác là phải nắm vững về phân bố, tình hình hiện trạng của chúng để thiết lập các khu vực bảo tồn nội vi hay bảo tồn nguyên vị (in - situ) và bảo tồn ngoại vi hay bảo tồn chuyển vị (ex - situ). Ở Việt Nam Cho đến nay do khai thác liên tục nhiều năm, khai thác không chú ý bảo vệ tái sinh và nhiều nguyên nhân tác động khác đã làm cho nguồn cây dược liệu tự nhiên ở Luan van 6 Việt Nam suy giảm nghiêm trọng.
Hầu hết các cây dược liệu có giá trị sử dụng và kinh tế cao nhanh chóng bị cạn kiệt. Đó là hậu quả của việc khai thác quá mức, khối lượng khai thác hàng năm vượt quá khả năng tái sinh bù đắp tự nhiên, như các loài Hoàng tinh hoa đỏ (Polygonatum kingianum), Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora), Đảng sâm (Codonopsis javanica), Ba kích (Morinda officinalis), Kim tuyến (Anoectochilus roxburghii), Một lá (Nervilia fordii), Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus),… Đặc biệt là những cây được khai thác đưa vào sản xuất công nghiệp như Vàng đắng (Coscinium fenestratum), Hoàng đằng (Fibraurea spp.), Bình vôi (Stephania spp.),… mức độ bị suy giảm thường nhanh hơn (Nguyễn Tiến Bân & cs, 2007; Nguyễn Tập, 2006b). Một số loài cây dược liệu vốn hiếm gặp, do bị tìm kiếm khai thác gay gắt đã dẫn tới nguy cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam. Đối với những vùng trồng cây dược liệu truyền thống cũng bị thu hẹp đáng kể.
Nhiều cây thuốc nam bản địa như Hồng bạch, Hương nhu tía, Đậu ván trắng, Ý dĩ, Ngải máu, Tam thất gừng,… đang có xu hướng bị lãng quên. Nhiều giống và loài cây dược liệu nhập nội đã từng đưa vào sản xuất đại trà ở nước ta đã và đang bị mất giống dần. Do nguồn nguyên liệu dược chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên nên cho đến nay phần lớn nguyên liệu cho sản xuất dược phẩm, thực phẩm chức năng và dược liệu cho y học cổ truyền của nước ta phải dựa vào nguồn nhập khẩu (Nguyễn Tập, 2006a). Với mục tiêu quản lý, khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây dược liệu phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học, công tác bảo tồn nguồn gen cây dược liệu đã được thực hiện thường xuyên trong nhiều năm qua.
Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung, cây dược liệu nói riêng, gắn với bảo tồn tri thức bản địa ở Việt Nam đã và đang được quan tâm đặc biệt. Để bảo tồn các loài cây dược liệu, các phương pháp nhân giống được nghiên cứu áp dụng cho phù hợp với từng loài cây như: nhân giống hữu tĩnh và vô tính như bằng nuôi cấy mô và giâm hom cành. Các nghiên cứu liên quan đến phát triển cây dược liệu 1. Trên thế giới * Lịch sử nghiên cứu tài nguyên cây dược liệu trên thế giới Dược thảo được phát triển như một truyền thống văn hóa của Trung Quốc từ Luan van 7 khoảng 5000 năm về trước (2.
Tài liệu ghi chép lại tri thức sử dụng cây thuốc sớm nhất của người Sumarian được viết bằng chữ tượng hình vào năm 2000 TCN, “Materia Medica” đã ghi chi tiết tác dụng cây cỏ chữa bệnh của 250 loại cây dược liệu. Ấn Độ cũng là quốc gia có truyền thống sử dụng các loại dược thảo lâu đời.Tài liệu ghi chép sớm nhất về sử dụng cây dược liệu được tìm thấy trong sách Rig - Veda vào khoảng 4500 - 1600 TCN, đây được xem là cuốn sách cổ nhất về sử dụng cây dược liệu trong lịch sử loài người.000 loài thực vật sử dụng làm thuốc đã được biết đến ở Ấn Độ.