MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, vấn đề môi trường đang được các quốc gia và cộng đồng trên thế giới quan tâm. Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mặt mà còn ảnh hưởng về lâu dài cho thế hệ sau. Việc bảo vệ môi trường cũng bao gồm: Việc giải quyết ô nhiễm do nguồn nước thải, ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, sinh học công nghiệp, các chất thải trong y tế…Để xử lý các loại chất thải trên cần có những biện pháp thích hợp mỗi loại chất thải, nhóm chất thải lại có một cách xử lý riêng theo những cách khác nhau để giảm thiểu đến mức tối đa mức độ ảnh hưởng của chất thải đến con người và môi trường việc xử chất thải là một vấn đề thật sự khó khăn và nan giải. Với mỗi loại chất thải, chúng ta cần có những biện pháp xử lý khác nhau từ những khâu thu gom đến khâu tiêu hủy cuối cùng.
Một trong số các chất thải cần phải đặc biệt quan tâm đó là các chất thải trong y tế nhất vì tính đa dạng và phức tạp của chúng. Dân số việt nam hiện nay ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh gia tăng theo, số bệnh viện theo đó gia tăng.Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành có 843 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng. Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất thải bệnh viện. Tỉnh Thái Nguyên có 12 bệnh viện đa khoa từ tuyến trung ương đến tuyến huyện nằm khắp nơi trên địa bàn tỉnh.
Việc phát triển và nâng cấp các bệnh viện là một nhu cầu thiết yếu và cần thiết của xã hội song sự phát triển ồ ạt dẫn tới việc không đồng bộ của hoạt động bộ máy, đặc biệt bảo vệ môi n 2 trường luôn là vấn đề được đặt ra sau cùng trong quá trình phát triển này. Việc tiếp xúc với chất thải y tế là trạng thái y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương. Các chất thải y tế có thể chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là chất độc hại phóng xạ các vật sắc nhọn… tất cả các nhân viên tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người bên ngoài làm việc thu gom chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do sự sai sót trong khâu quản lý chất thải. Bệnh viên Đa khoa Đại Từ tỉnh Thái Nguyên được xây dựng nhằm phục vụ yêu cầu về khám chữa bệnh và điều trị bệnh cho nhân dân trong địa bàn huyện.
Trải qua một thời gian dài, xây dựng và phát triển ngày nay bệnh viện Đa khoa Đại Từ đã được xây dựng khang trang, được trang bị nhiều trang thiết bị nhiều trang thiết bị hiện đại, quy mô giường bệnh cũng tăng hàng năm, là tuyến cơ sở tiếp nhận bệnh nhân đến từ các trạm y tế xã đến để chăm sóc và điều trị. Lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh và điều trị tại bệnh viện ngày càng tăng và hệ quả tất yếu là sẽ làm tăng lượng chất thải y tế tại bệnh viện. việc phát sinh và thải bỏ chất thải y tế nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây ảnh hưởng lớn đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân. Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu của công tác thu gom xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện.
được sự đồng ý của khoa Môi trường em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý rác thải và nước thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” 1.2 Mục tiêu đề tài 1.1 Mục tiêu tổng quát - Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý rác thải và nước thải y tế tại bệnh viện đa khoa Đại Từ. n 3 - Góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác thu gom, xử lý chất thải y tế, nâng cao chất lượng môi trường .2 Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu đánh giá thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế. Xác định tổng khối lượng rác thải. - Chất thải y tế được thu gom cần chuyển và xử lý.
- Đề xuất một số biện pháp tăng hiệu quả quản lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm thích hợp.3 Yêu cầu - Thực hiện được mục tiêu đề tài cần nghiên cứu. - Áp dụng các kiến thức đã học vào trong quá trình làm đề tài. - Đánh giá được thực trạng thu gom và xử lý rác thải, nước thải bệnh viện. - Đưa ra các giải pháp cụ thể để cải thiện môi trường.4 Ý nghĩa đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học.
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. + Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu. - Ý nghĩa thực tiễn. + Đánh giá được lượng rác thải và nước thải phát sinh, tình hình thu gom, và xử lý rác thải y tế của bệnh viện đa khoa Đại Từ.
+ Đề xuất những biện pháp khả thi giúp cho công tác thu gom, xử lý rác thải y tế một cách khoa học và phù hợp hơn với điều kiện của bệnh viện. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở pháp lý - Luật bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005. - Nghị định số 59/2007 NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 về quản lý chất thải rắn. - Quyết định 153/2006/QĐ –TTG ngày 30/06/2006 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
- Quyết định 155/1999/QĐ-TTG của thủ tướng chính phủ về quy chế quản lý chất thải nguy hại. - Quyết định 21495/2009/QĐ –TTG ngày 17 tháng 12 năm 2009 của thủ tướng chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn dến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2050. - Quyết định số 23/2006/QĐ- BTNMT 26háng 12 năm 2006 về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại. - Quyết định số 2575/1999/QĐ-BTNMT ngày 27 tháng 08 năm 1999 về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế.
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế. - TCVN 7382/2004 về chất lượng nước thải bệnh viện tiêu chuẩn thải - Thông tư số 12/2006/TT-Bộ TNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006: hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại.1 Các khái niệm liên quan * Định nghĩa chất thải y tế Theo quy chế quản lý CTYT của Bộ y tế ban hành tại quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, quy định: + Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. + Chất thải y tế nguy hại là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn.[14] * Phân loại chất thải y tế Căn cứ vào đặc điểm lý học, hóa học, sinh học, và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được chia thành 5 nhóm * Chất thải lây nhiễm: Nhóm này gồm các chất thải: - Chất thải sắc nhọn (loại A): là chất thải có thể gây ra các vết thương cắt hoặc chọc thủng có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác dùng trong hoạt động y tế. - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể vàcác chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: Bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh phẩm. - Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người: Rau thai, bào thai, xác động vật thí nghiệm. * Chất thải hóa học nguy hại: Nhóm này gồm các chất thải sau: - Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng. n 6 - Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế.
- Chất gây độc tế bào, gồm: Vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu. - Chất thải chứa kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế, thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt dộng nha khoa), cadmi (Cd) (từ pin, ác quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh hoặc xạ trị).[14] * Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất. Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết Định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Y Tế. - Bình chứa áp suất: bao gồm bình đựng oxi, CO2, bình ga, bình khí dung.
Các bình này dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt. - Chất thải thông thường : là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: - Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). - Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn Y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: Giấy, báo, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.