Đặt vấn đề: Cùng với quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nƣớc, giáo dục của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều trách thức trong quá trình tự khẳng định mình. Quy mô, sự đa dạng hoá các loại hình giáo dục đào tạo, chất lƣợng đã và đang là mối quan tâm của toàn xã hội và đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết không chỉ đối với các cơ sở giáo dục đào tạo mà còn trong phạm vi cả nƣớc. Cải tiến và nâng cao chất lƣợng giáo dục lúc này đƣợc coi là “kim chỉ nam cho mọi hành động” để phát triển nền giáo dục nƣớc nhà. Hệ thống giáo dục của một quốc gia chỉ là một bộ phận của hệ thống tổng thể, có trách nhiệm phục vụ và hỗ trợ cho sự phát triển của hệ thống này.
Do hệ thống giáo dục không tự mình trang trải kinh phí song lại sử dụng những nguồn lực đáng kể, nên thực chất của nó có quan hệ chặt chẽ với các quá trình kinh tế. Bởi vậy, lập luận dƣới đây sẽ đƣợc giải thích một cách vắn tắt vai trò của hệ thống giáo dục đối với sự phát triển kinh tế, tiếp đến là thực trạng hệ thống đào tạo của Việt Nam nói chung và việc đào tạo giáo viên nói riêng: Do sự yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn mới. Đất nƣớc ta đang bƣớc vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nƣớc nông nghiệp về cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con ngƣời, là nguồn lực ngƣời Việt Nam đƣợc phát triển về số lƣợng và chất lƣợng trên cơ sở mặt bằng dân trí đƣợc nâng cao.
Việc này cần đƣợc bắt đầu từ giáo dục phổ thông, mà trƣớc hết là phải bắt đầu từ việc xác định mục tiêu đào tạo nhƣ là xác định những gì cần đạt đƣợc (đối với ngƣời học) sau một quá trình đào tạo. Nói chung đó là một hệ thống phẩm chất và năng lực đƣợc hình thành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn. Do sự phát triển mạnh, nhanh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ thể hiện qua các lý thuyết, các thành tựu mới và khả năng ứng dụng cao, rộng và nhanh vào thực tế buộc Chƣơng trình (CT), sách giáo khoa (SGK) phải luôn đƣợc xem xét, điều chỉnh. Học vấn mà nhà trƣờng phổ thông trang bị không thể thâu tóm đƣợc mọi tri thức mong muốn, vì vậy phải coi trọng việc dạy cách đi tới kiến thức của loài ngƣời.
Xã hội đòi hỏi học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dƣới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà 9 trƣờng mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập. Nội dung học vấn đƣợc hình thành và phát triển trong nhà trƣờng phải góp phần quan trọng để phát triển hứng thú và năng lực nhận thức của học sinh: cung cấp cho học sinh những kỹ năng cần thiết cho việc tự học và tự giáo dục sau này. CT và SGK phải góp phần tích cực trong việc thực hiện yêu cầu đó. Cần phải hoà chung với xu thế đổi mới tiến bộ trên thế giới trong lĩnh vực CT, SGK đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay.
Đây cũng là một trong những yêu cầu cần thiết, đặc biệt là các bối cảnh thế giới hiện nay với xu thế hoà nhập. Từ tinh thần trên, việc xây dựng CT giáo dục phổ thông ở nƣớc ta cũng theo xu thế: - Quan tâm hơn nữa đến việc đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội và cạnh tranh quốc tế trong tƣơng lai, góp phần thực hiện yêu cầu bình đẳng và công bằng về cơ hội giáo dục. - Nhấn mạnh việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa truyền thống tốt đẹp của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá. Thiết nghĩ trong xu thế hội nhập, muốn phát triển quốc gia phải phát triển giáo dục, phải chăm lo phát triển GDGV, phát triển nghề dạy học.
Muốn phát triển nghề dạy học phải chăm lo ĐT GV các cấp học. Muốn nâng cao chất lƣợng ĐTGV các cấp học phải đặc biệt quan tâm ĐT GV các trƣờng SP. Những nƣớc thành công trong sự nghiệp phát triển GD đều coi trọng việc hoàn thiện chính sách đối với nhà giáo và sử dụng hợp lí đội ngũ GV. Có thể khải quát hoá các mối liên hệ trên bằng sơ đồ dƣới đây: GDGV -> Phát triển đội ngũ GV -> Phát triển GD -> Phát triển kinh tế - xã hội.
Chƣơng trình của giáo dục phổ thông phải là sự thể hiện cụ thể của mục tiêu giáo dục quy định trong Luật giáo dục với những phẩm chất và năng lực đƣợc hình thành và phát triển trên nền tảng kiến thức, kỹ năng chắc chắn với mức độ phù hợp với đối tƣợng ở từng cấp học, bậc học. Với yêu cầu và mục tiêu đã nêu Dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở (TTC) – VIE 1718 đƣợc thành lập theo Quyết định 494/QĐ- TTg ngày 23 tháng 5 năm 2000. Một trong số các hoạt động của TTC nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ GVTH trên cơ sở Chuẩn chuyên môn, đảm bảo đủ số lƣợng và sử dụng có hiệu quả hơn đội ngũ giáo viên; Tăng cƣờng năng lực cho các trƣờng sƣ 10 phạm đào tạo giáo viên trung học cơ sở nhằm phục vụ cho việc thực hiện chƣơng trình CĐSP mới quán triệt những tƣ tƣởng chỉ đạo trong các văn kiện: - Văn kiện Đại hội IX của Đảng (4/2001). - Luật Giáo dục (12/1998) - Chiến lƣợc phát triển Giáo dục giai đoạn 2001 –2010 - Kế thừa những ƣu điểm, khắc phục những nhƣợc điểm trong chƣơng trình cũ, tiếp thu các kết quả nghiên cứu.
Chƣơng trình CĐSP mới đƣợc tiếp tục đổi mới theo 4 định hƣớng sau: 1. Thiết thực và tiềm lực 2. Kiến thức và năng lực 3. Phương pháp dạy và phương pháp học và 4.
Chỉ đạo của Bộ Giáo dục & đào tạo và chủ động cơ sở Chƣơng trình CĐSP mới sẽ tích hợp nội dung để tiến đến giảm số môn học, tinh giản nội dung và tăng cƣờng mối liên hệ giữa các nội dung, chuyển một số nội dung thành hoạt động giáo dục để góp phần giảm nhẹ gánh nặng học tập ở các cấp mà không giảm trình độ của CT. Một trong những trọng tâm của đổi mới Chƣơng trình CĐSP mới là tập trung vào đổi mới phƣơng pháp dạy học và thực hiện học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh với sự tổ chức và hƣớng dẫn đúng mực của giáo viên nhằm phát triển tƣ duy độc lập, sáng tạo góp phần hình thành phƣơng pháp và nhu cầu tự học, bồi dƣỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập. Tiếp tục tận dụng các ƣu điểm của phƣơng pháp truyền thống và dần dần làm quen với những phƣơng pháp dạy học mới. Quan niệm về HỌC: là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trƣờng xung quanh.
Theo định nghĩa về HỌC này bao gồm các yếu tố: thông tin từ môi trƣờng xung quanh, thu thập và xử lý thông tin và biến đổi bản thân. Từ quan niệm đó có thể đƣa ra một quan niệm sóng đôi với nó về DẠY: là việc giúp cho ngƣời học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc biến đổi những tình cảm, thái độ. Theo quan niệm này thì DẠY không phải là truyền thụ kiến thức, càng không phải cung cấp thông tin đơn thuần, mà chủ yếu là giúp ngƣời học tự mình chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, thay đổi tình cảm và hình thành thái độ. Nhận thức đƣợc quan 11 niệm tổng quát về DẠY và HỌC sẽ nắm đƣợc các tiêu chí để lựa chọn phƣơng pháp DẠY và HỌC ở bậc đại học trong kỳ thi mới.
Từ các nhận thức nêu trên ngƣời học - học viên xác định đƣợc phƣơng hƣớng phấn đấu để đảm đƣơng đƣợc sứ mạng của nhà giáo cao đẳng, đại học trong thời kỳ mới. Luật Giáo dục 2005 Điều 29 mục II đã nêu: “Chƣơng trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phƣơng pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông”. Nhƣ vậy, Dự án TTC thực hiện đổi mới Chƣơng trình CĐSP mới theo quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp đến phƣơng tiện, đánh giá kể cả việc đổi mới cách xây dựng chƣơng trình, từ quan niệm cho đến quy trình kỹ thuật và đổi mới những hoạt động quản lý cả quá trình này. Trong quá trình triển khai, dự án cũng đã tiến hành đánh giá thƣờng niên công tác đảm bảo chất lƣợng triển khai chƣơng trình CĐSP mới.
Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác nhận giá trị thực trạng về: mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lƣợng, hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển, những kinh nghiệm đƣợc hình thành. ở tại thời điểm hiện tại so với mục tiêu, những chuẩn mực đã đƣợc xác lập. Thông qua việc đánh giá nêu ra những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh để hoàn thiện. Hoạt động đánh giá dù thuộc lĩnh vực nào cũng là một khoa học - khoa học đánh giá.
Đánh giá giáo dục trong đó có đánh giá giảng viên không chỉ là sự đánh giá đơn thuần mà là một lĩnh vực nghiên cứu của khoa học giáo dục, tuy còn mới mẻ nhƣng đang trên đƣờng phát triển để hoàn thiện. Giảng viên có vai trò và vị trí lớn trong nhà trƣờng và ngoài xã hội. Do đó trong bản luận văn này, chúng tôi đã nghiên cứu xây dựng tiêu chí cho việc đánh giá tác động của chƣơng trình CĐSP mới đối với giảng viên Cao đẳng sƣ phạm. Tuy nhiên, việc đánh giá tác động của chương trình CĐSP mới đối với giảng viên CĐSP thì đây là đề tài mới đƣợc đề xuất và đƣợc dự án quan tâm, hỗ trợ thực hiện, vì kết quả của đề tài sẽ góp phần đánh giá kết quả triển khai của dự án VIE – 1718.