Luận văn thạc sĩ ueh đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn thương tín

Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng với dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2014

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ

1.2. Dịch vụ ngân hàng

1.2.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng

1.2.2. Đặc tính của dịch vụ ngân hàng

1.2.3. Dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thương mại

1.2.3.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thương mại
1.2.3.2. Nội dung dịch vụ ngân hàng điện tử
1.2.3.3. Các loại dịch vụ ngân hàng điện tử

1.2.4. Lợi ích của dịch vụ ngân hàng điện tử

1.2.5. Rủi ro của dịch vụ ngân hàng điện tử

1.3. Sự hài lòng của khách hàng và các yếu tố quyết định

1.3.1. Sự hài lòng của khách hàng

1.3.2. Các yếu tố quyết định đến sự hài lòng của khách hàng

1.3.3. Chất lượng dịch vụ theo Mô hình Parasuraman

1.3.4. Lý do đề tài chọn sử dụng mô hình SERVQUAL của Parasuraman để thực hiện nghiên cứu

1.4. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

1.4.1. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng

1.4.2. Ảnh hưởng của giá cả đến sự hài lòng của khách hàng

1.4.3. Xây dựng mô hình lý thuyết nghiên cứu

1.4.4. Các giả thuyết nghiên cứu

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

2.1.1. Quá trình ra đời và phát triển

2.1.2. Cơ cấu tổ chức

2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín giai đoạn 2008 – 2013

2.1.3.1. Tổng tài sản
2.1.3.2. Hoạt động tín dụng
2.1.3.3. Hoạt động dịch vụ
2.1.3.4. Kết quả kinh doanh

2.2. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

2.2.1. Vài nét về các sản phẩm - dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín

2.2.1.1. Mobile Banking SMS
2.2.1.2. Mobile Banking Mplus
2.2.1.3. Thẻ thanh toán
2.2.1.4. Thẻ trả trước

2.2.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín giai đoạn 2011 – 2013

2.2.2.1. Về số lượng khách hàng sử dụng
2.2.2.2. Về thu dịch vụ từ NHĐT

2.2.3. ĐÁNH GIÁ VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

2.2.3.1. Những hạn chế và nguyên nhân

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

3.1. ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU

3.1.1. Trình độ học vấn

3.1.2. Thu nhập hàng tháng

3.1.3. Loại dịch vụ NHĐT khách hàng đang sử dụng

3.1.4. Thời gian sử dụng dịch vụ NHĐT của Sacombank

3.2. KIỂM ĐỊNH THANG ĐO

3.2.1. Đánh giá sơ bộ thang đo

3.2.2. Kiểm định độ tin cậy – Cronbach’s Alpha

3.2.3. Phân tích nhân tố (EFA)

3.3. KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH LÝ THUYẾT

3.3.1. Phân tích tương quan

3.3.2. Phân tích hồi quy tuyến tính

3.4. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

4.1. GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

4.1.1. Đối với chính sách “Giá cả dịch vụ”

4.1.2. Đối với yếu tố “Sự tin cậy”

4.1.3. Đối với yếu tố “Sự cảm thông”

4.1.4. Đối với yếu tố “Sự đáp ứng”

4.1.5. Đối với Chính phủ

4.1.6. Đối với Ngân hàng Nhà nước

4.2. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Sự Hài Lòng Của Khách Hàng Tại Sacombank

Đánh giá sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng điện tử tại Sacombank là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng. Ngân hàng điện tử không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Việc hiểu rõ mức độ hài lòng của khách hàng sẽ giúp Sacombank cải thiện dịch vụ và giữ chân khách hàng.

1.1. Khái Niệm Về Sự Hài Lòng Của Khách Hàng

Sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa là cảm giác thỏa mãn hoặc không thỏa mãn của khách hàng sau khi sử dụng dịch vụ. Đối với dịch vụ ngân hàng điện tử, sự hài lòng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng dịch vụ, tính tiện lợi và độ tin cậy.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Đánh Giá Sự Hài Lòng

Đánh giá sự hài lòng không chỉ giúp ngân hàng hiểu được nhu cầu của khách hàng mà còn là cơ sở để phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới. Điều này cũng giúp Sacombank duy trì và mở rộng thị phần trong ngành ngân hàng.

II. Những Thách Thức Trong Đánh Giá Sự Hài Lòng Của Khách Hàng

Mặc dù có nhiều công cụ và phương pháp để đánh giá sự hài lòng của khách hàng, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các yếu tố như sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng và sự cạnh tranh từ các ngân hàng khác có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá.

2.1. Sự Biến Động Trong Nhu Cầu Khách Hàng

Nhu cầu của khách hàng có thể thay đổi theo thời gian do nhiều yếu tố như xu hướng công nghệ mới, sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng và các yếu tố kinh tế. Điều này làm cho việc đánh giá sự hài lòng trở nên khó khăn hơn.

2.2. Cạnh Tranh Từ Các Ngân Hàng Khác

Sự cạnh tranh từ các ngân hàng khác cũng là một thách thức lớn. Khách hàng có thể dễ dàng chuyển đổi sang ngân hàng khác nếu họ không hài lòng với dịch vụ hiện tại. Do đó, Sacombank cần phải liên tục cải thiện chất lượng dịch vụ.

III. Phương Pháp Đánh Giá Sự Hài Lòng Của Khách Hàng Tại Sacombank

Để đánh giá sự hài lòng của khách hàng, Sacombank đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm khảo sát trực tiếp, phỏng vấn và phân tích dữ liệu từ các giao dịch ngân hàng điện tử.

3.1. Khảo Sát Trực Tiếp Khách Hàng

Khảo sát trực tiếp là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để thu thập ý kiến của khách hàng. Sacombank thường xuyên tổ chức các cuộc khảo sát để nắm bắt ý kiến và phản hồi từ khách hàng.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu Giao Dịch

Phân tích dữ liệu từ các giao dịch ngân hàng điện tử cũng giúp Sacombank hiểu rõ hơn về hành vi và nhu cầu của khách hàng. Dữ liệu này có thể cung cấp thông tin quý giá về mức độ hài lòng của khách hàng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Sự Hài Lòng Của Khách Hàng Tại Sacombank

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng đa số khách hàng hài lòng với dịch vụ ngân hàng điện tử của Sacombank. Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm cần cải thiện để nâng cao hơn nữa sự hài lòng của khách hàng.

4.1. Mức Độ Hài Lòng Chung

Theo khảo sát, khoảng 75% khách hàng cho biết họ hài lòng với dịch vụ ngân hàng điện tử của Sacombank. Điều này cho thấy ngân hàng đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu của khách hàng.

4.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Hài Lòng

Các yếu tố như chất lượng dịch vụ, tính tiện lợi và độ tin cậy được đánh giá cao nhất. Tuy nhiên, một số khách hàng vẫn cho rằng cần cải thiện thêm về tốc độ giao dịch và hỗ trợ khách hàng.

V. Giải Pháp Nâng Cao Sự Hài Lòng Của Khách Hàng Tại Sacombank

Để nâng cao sự hài lòng của khách hàng, Sacombank cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Các giải pháp này bao gồm cải thiện chất lượng dịch vụ, tăng cường hỗ trợ khách hàng và đầu tư vào công nghệ mới.

5.1. Cải Thiện Chất Lượng Dịch Vụ

Sacombank cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc đào tạo nhân viên và nâng cấp hệ thống công nghệ.

5.2. Tăng Cường Hỗ Trợ Khách Hàng

Tăng cường hỗ trợ khách hàng qua các kênh trực tuyến và điện thoại sẽ giúp khách hàng cảm thấy được quan tâm hơn. Sacombank nên xem xét việc mở rộng giờ hỗ trợ và cải thiện quy trình giải quyết khiếu nại.

VI. Kết Luận Về Tương Lai Của Dịch Vụ Ngân Hàng Điện Tử Tại Sacombank

Dịch vụ ngân hàng điện tử tại Sacombank có tiềm năng phát triển lớn trong tương lai. Với sự đầu tư vào công nghệ và cải thiện chất lượng dịch vụ, ngân hàng có thể thu hút thêm nhiều khách hàng và nâng cao sự hài lòng.

6.1. Tiềm Năng Phát Triển

Với sự phát triển của công nghệ, dịch vụ ngân hàng điện tử sẽ ngày càng trở nên phổ biến. Sacombank cần nắm bắt cơ hội này để phát triển dịch vụ và thu hút khách hàng mới.

6.2. Định Hướng Chiến Lược Tương Lai

Sacombank cần xây dựng một chiến lược dài hạn để phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử. Điều này bao gồm việc đầu tư vào công nghệ mới và cải thiện trải nghiệm khách hàng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn thương tín

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ. Dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Cho đến nay, có khá nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng.

Theo David Cox (1997), hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đều gọi là dịch vụ ngân hàng. Cụ thể hơn, dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán…mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản…của họ, nhờ đó ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí. Nói đến dịch vụ ngân hàng người ta thường gắn nó với hai đặc điểm: thứ nhất, đó là dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế của nó mới có thể thực hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ; thứ hai, đó là các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng không những cho phép ngân hàng thương mại thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng, mà còn hỗ trợ tích cực để ngân hàng thương mại thực hiện tốt hơn chức năng của ngân hàng thương mại. Ở nước ta, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng được Luật Tổ chức tín dụng quy định nhưng không có định nghĩa giải thích.

Theo Luật Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 không nhắc đến dịch vụ ngân hàng, mà chỉ nhắc đến các hoạt động của Ngân hàng thương mại đó là: 1. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; 2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài; 3. Cấp tín dụng dưới các hình thức; 4.

Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; 5. Cung ứng các phương tiện thanh toán; 6. Cung ứng các dịch vụ thanh toán. Dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất trong các loại hình dịch vụ tài chính.

Theo cách định nghĩa của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra trong Phụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định chung về thương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com , 8  mại dịch vụ (GATS) thì: Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). Điều đó có nghĩa dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành dịch vụ tài chính và trong bảng phân ngành dịch vụ của WTO nó được chia thành 12 phân ngành cụ thể sau: 1. Nhận tiền gửi và các khoản tiền gửi từ công chúng; 2.

Cho vay dưới mọi hình thức bao gồm: cho vay tiêu dùng, thế chấp, bao thanh toán và các khoản tài trợ cho các giao dịch thương mại khác; 3. Cho thuê tài chính; 4. Tất cả các khoản thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng; 5. Bảo lãnh và cam kết thanh toán; 6.

Tự doanh hoặc kinh doanh trên tài khoản của khách hàng, kể cả trên thị trường tập trung, thị trường OTC hoặc các thị trường khác; 7. Phát hành các loại chứng khoán, bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành (cả phát hành công khai và không công khai) và cung ứng các dịch vụ liên quan đến hoạt động phát hành; 8. Môi giới tiền tệ; 9. Quản lý tài sản gồm quản lý tiền mặt, quản lý danh mục, tất cả các hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ ủy thác, lưu ký và tín thác; 10.

Dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ đối với các tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ có thể chuyển nhượng khác; 11. Cung cấp và trao đổi các thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm có liên quan của các nhà cung ứng dịch vụ tài chính khác; 12. Dịch vụ tư vấn, môi giới và các dịch vụ tài chính hỗ trợ khác liên quan đến tất cả các hoạt động nói trên, bao gồm cả việc tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và đầu tư theo danh mục, tư vấn đối với các hoạt động mua lại và tái cơ cấu doanh nghiệp cũng như xây dựng chiến lược. Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai phạm vi rộng và hẹp.

Theo nghĩa rộng, dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của hệ thống ngân hàng với doanh nghiệp và công chúng. Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vực dịch vụ ngân hàng trong cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com , 9  gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống (như huy động vốn và cho vay). Quan niệm này chỉ nên dùng để nghiên cứu sự phát triển các dịch vụ ngân hàng mới và cơ cấu các dịch vụ ngân hàng mới trong hoạt động của ngân hàng.

Tóm lại, có thể hiểu khái quát về dịch vụ ngân hàng như sau: “dịch vụ ngân hàng bao gồm tất cả các dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho khách hàng”. Đặc tính của dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng được bằng mắt thường. Tính vô hình: dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó và cân đong đo đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình.

Khi mua một sản phẩm vật chất, khách hàng có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lượng trước khi mua nhưng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá như thế. Tính không đồng nhất: đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ “thứ cấp”, “phổ thông” đến “cao cấp”.

Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ yếu kém hay hoàn hảo khó có thể xác định dựa vào một thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể. Tính không thể tách rời: thể hiện ở việc khó có thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau. Nếu hàng hóa thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó.

Tính không thể cất trữ: dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com , 10  nhưng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc tái sử dụng hay phục hồi lại. Dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thương mại  Khái quát về thương mại điện tử: Trong những năm gần đây, thương mại điện tử phát triển một cách mạnh mẽ.

Đi cùng với nó là sự tác động tới nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng là một trong những ngành chịu ảnh hưởng khá lớn. Có thể nói thương mại điện tử là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của dịch vụ Ngân hàng điện tử ( E-Banking). Chúng có mối quan hệ hữu cơ, qua lại lẫn nhau, loại hình này hỗ trợ cho loại hình kia. Để tiếp cận đấy đủ và chính xác khái niệm E-Banking, trước hết cần tìm hiểu khái niệm thương mại điện tử.

Theo Theo Rosen, Anita (2000), thương mại điện tử ( tên Tiếng Anh là Electronic- Commerce, tên viết tắt là E-Commerce) là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là Internet và các mạng viễn thông khác.  Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử: Trong ngành ngân hàng, thương mại điện tử được biết đến với tên gọi Dịch vụ ngân hàng điện tử (E-Banking). Nói cách khác dịch vụ ngân hàng điện tử là việc ứng dụng thương mại điện tử trong lĩnh vực ngân hàng. Trong những năm gần đây, thương mại điện tử đã góp phần làm thay đổi mạnh mẽ và đa dạng các hoạt động của ngân hàng.

Dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking viết tắt là E-Banking), hiểu theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử, nhất là Internet và các mạng viễn thông khác. Hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. E- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com , 11  Banking là một dạng của thương mại điện tử (electronic commerce hay e- commerce) ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Cũng có thể hiểu cụ thể hơn, E-Banking là một hệ thống phần mềm tin học cho phép khách hàng có thể tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua phương tiện điện tử (công nghệ thông tin, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự).

Các NHTM ở các nước tiên tiến trên thế giới đã và đang phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ ngân hàng điện tử.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ