Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá rủi ro trong thâm định dự án vay vốn tại ngân hàng Thương Mại Chương 2: Thực trạng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Thương mại Cổ phan Hàng Hải chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2016 - 2018 Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thâm định rủi ro trong cho vay theo dự án đầu tư tại Ngân hàng Thuong Mại Cổ phan Hàng Hải chi nhánh Hà Nội Do hạn chế về trình độ cũng như thời gian thực tập, việc phân tích, xử lý số liệu thực tế còn khiếm khuyết nên vấn đề nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót nhất định, em mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ thầy cô để có thể hoàn chỉnh hơn nữa chuyên đề này. Em xin chân thành cảm ơn thầy cô và các anh chị Phòng Quan hệ khách hàng 2 đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên dé. CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG THÂM ĐỊNH DU ÁN VAY VON TAI NGAN HANG THUONG MAI (NHTM) 1. Khái niệm về rủi ro và phân loại rủi ro trong thâm định dự án vay vốn ngân hàng thương mại.
Khái niệm Rủi ro là những bắt trắc có thể đo lường trước, có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, thì có thể tìm ra cách ngăn ngừa, hạn chế rủi ro tiêu cực và đón nhận cơ hội mang lại kết quả tốt trong tương lai. s* Đứng trên góc độ ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là những sự có xảy ra ngoài dự kiến của ngân hàng, có khả năng gây tốn thất cho hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Như vậy, về học thuật, khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh bao gồm nhữn g sự cố xảy ra ngoài dự kiến có thể gây ton thất và cũng có thể không gây tốn thất nhưng gây nên bắt lợi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên với khái niệm hẹp và trong quản lý điều hành thì rủi ro trong hoạt động ngân hàng được quan tâm là rủi ro ở khía cạnh tồn thất. * Đứng trên góc độ chủ đầu tư Các dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau, chăng hạn như hình thức, quản lý, lập kế hoạch hoặc cân nhắc nội dung. Có các khái niệm khác nhau cho mỗi góc độ như sau: - Một tập hợp các hoạt động để đạt được một mục tiêu nhất định, trong quá trình đạt được mục tiêu đó cần đầu vào và kết quả thu được là đầu ra - Là một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một nhiệm vụ cụ thể cần được th ực hiện bằng phương pháp, nguồn lực và kế hoạch tiến độ riêng để tạo ra một thực thể mới.
- Dự án là một nỗ lực hữu hạn, tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất đị nh Dự án đầu tư phải trải qua các giai đoạn bắt đầu từ khi dự án đang được ấp ủ cho đến khi dự án hoàn thành và chấm dứt. Trong quá trình của một chu kỳ dự án, rủi ro có thé xảy ra ở bat kỳ giai đoạn nào, bất cứ lúc nào. * Khái niệm rủi ro đối với dự án đầu tư: Rủi ro là nguy cơ nguy hiểm có thể bùng phát từ một số quy trình hoặc từ một vài sự kiện. Rủi ro liên quan đến khả năng xảy ra các sự kiện không lường trước được, các sự kiện mà chúng ta hoàn toàn không chắc chắn.
“+ Một số quan niệm rủi ro - Quan niệm rủi ro của Pháp: Người ta có thể coi rủi ro chỉ liên quan đế n các thiệt hại - rủi ro không đối xứng. - Quan niệm rủi ro của Mỹ: Rủi ro liên quan đến cả thiệt hại và may mắn -rủi ro đối xứng. Vậy, rủi ro là những biến cố có khả năng xảy ra trong tương lai, có thể có hoặc không lường trước được. Một rủi ro có thể đặt ra mối đe dọa với dự án nhưng cũng có thể đem lại cơ hội cho dự án đó.
Tùy từng trường hợp khác nhau, mà các rủi ro trong một dự án có thể là rủi ro trong kinh doanh (mang lại lợi nhuận hoặc gây thiệt hại) hoặc rủi ro thuần tuý (chỉ gây thiệt hại). Phân loại rủi ro. Rui ro đầu tư % Thứ nhất, rủi ro khách hàng vay vốn. Rủi ro khách hàng vay có thể chia thành 4 loại: - Rủi ro về năng lực pháp lý của doanh nghiệp: Rủi ro xảy ra trong quá trình thẩm định năng lực pháp lý của nhà đầu tư khi người vay không có đủ tài liệu chứng minh năng lực pháp lý theo quy định hiện hành.
Chẳng hạn như tài liệ u chứng minh mục đích sử dụng vốn, tài liệu chứng minh thu nhập. - Rui ro trong năng lực quản lý của doanh nghiệp: Bao gồm rủi ro trong ngành, lĩnh vực kinh doanh, rủi ro trong mô hình tổ chức sắp xếp lao động, rủi ro trong quản trị kinh doanh của lãnh đạo doanh nghiệp và rủi ro trong tình hình sản xuất kin h doanh của doanh nghiệp. - Rủi ro trong mô hình bố trí tổ chức của doanh nghiệp. - Rủi ro về khả năng tài chính của doanh nghiệp: Tình hình tài chính của chủ đầu tư được phan ánh qua các khía cạnh như cơ cau nguồn vốn và khả năng sử dụng vốn; trạng thái của các khoản phải thu khó đòi.
%* Thứ hai, rủi ro về dự án đầu tư Dự án đầu tư thường gặp các rủi ro như sau: s Rải ro cơ chế chính sách Rủi ro chính sách và chính sách liên quan đến những bắt ổn về tài chính và chính sách ảnh hưởng đến dự án. Chúng bao gồm: các loại thuế mới, các hạn chế về kiều hồi, quốc hữu hóa, tư nhân hóa hoặc luật, nghị quyết, nghị định và các cơ chế khác liên quan đến dòng tiền của dự án. Rủi ro về thuế: Với sự thay đổi thuế áp dụng cho lĩnh vực, các ngành nghề liên quan đến dự án sẽ thay đổi dòng tiền hàng năm của dự án, dẫn đến những thay đổi trong kết quả của NPV, IRR, Vy của dự án, ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án. Rui ro chính sách tuyển dụng lao động: Những thay đổi về quản lý lao động và chính sách tuyển dụng như thay đổi quy định về lương tối thiểu, chính sách đối với lao động nữ, chính sách hạn chế hoặc khuyến khích lao động nước ngoài.
và sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án 3. Rui ro hạn ngạch thuế quan hoặc các hạn chế thương mại khác: Những rủi ro này ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và chi phí của dự án. Nếu Nhà nước quyết định hạn chế nhập khẩu hàng hóa hoặc nguyên liệu khác theo yêu cầu của dự án, rủi ro này ảnh hưởng đến quy mô của dự án, ảnh hưởng đến sản lượng và chi phí của dự án. Rủi ro về kiểm soát ngoại hối: Hạn chế chuyền tiền ra nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến việc cung cấp hoặc tiêu thụ sản phẩm của dự án, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tu.
e Rủúi ro độc quyền: Sự độc quyền trong kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp hoặc tập đoàn nào sẽ hạn chế quyền tự do đầu tư của các doanh nghiệp khác. Một số lĩnh vực mà Nhà nước hau như chỉ ở nước ta như sản xuất, cung cấp điện, dịch vụ hàng không. sẽ giảm cơ hội đầu tư cho các công ty và doanh nghiệp tư nhân muốn đầu tư vào lĩnh vực này. s Rủi ro môi trường, sức khỏe và an toàn: Quy định môi trường - ô nhiễm môi trường, chất thải, quy trình sản xuất để bảo vệ sức khỏe con người, cộng đồng có thể tăng chi phí dự án, giảm hiệu quả của dự án.
e Rúi ro về xây dựng, hoàn tất công trình (rủi ro về tiến độ thực hiện) Đây là những rủi ro liên quan đến tiến độ của dự án. Khi mà hoàn thành dự án không kịp thời, không đáp ứng các yêu cầu, thông số và tiêu chuẩn thực hiện dự án, rủi ro chi phí xây dựng vượt quá mức ước tính, nguy cơ giải phóng dân số. , giải phóng mặt bang, rủi ro thu hẹp hoặc hủy bỏ dự án. Rui ro chi phí xây dựng vượt dự toán: Trong quá trình thực hiện dự án, giá nguyên liệu thường biến động, nếu giá nguyên vật liệu hoặc đầu vào khác tăng so với dự án.
Chi phí ban đầu sẽ làm tăng tổng chỉ phí xây dựng, vượt quá dự toán, có thể gây khó khăn cho việc tang tổng mức đầu tư, hoặc sẽ làm giảm lợi nhuận của việc tăng, giảm hiệu quả và tính khả thi của dự án. _ Rủiro về công trình xây dựng không đáp ứng các thông số và tiêu chuẩn: các thông số và tiêu chuẩn không đạt yêu cầu sẽ làm giảm chất lượng công trình, giảm chất lượng sản phẩm dự án, ảnh hưởng đến mức doanh thu và lợi nhuận của dự án, giảm hiệu quả của dự án. Rui ro của các công trình dở dang dự kiến sẽ bị trì hoãn: Thời gian xây dựng dự kiến tăng khi chi phí dự án tăng, như tăng chỉ phí nhân viên, tăng chỉ phí tiện ích, chi phí thuê bãi, kho bãi cho dự án ., sẽ giảm hiệu quả và tính khả thi của dự án. Rủiro giải phóng mặt bằng và giải phóng mặt bằng: Thông thường, người dân sống trong khu vực dự án sẽ không muốn di dời, gây khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng và giải phóng mặt bằng.
, có thé ảnh hưởng đến thời gian giải phóng mặt bằng, có thể làm tăng chỉ phí giải phóng mặt bằng, tăng tổng chi phí và thời gian thực hiện dự án, giảm hiệu quả của dự án. e Rủi ro về thị trường, thu nhập và thanh toán. Rủi ro thị trường, thu nhập và rủi ro thanh toán bao gồm rủi ro cung và giá nguyên vật liệu hoặc đầu vào khác thay đổi theo cách tiêu cực, rủi ro sản phẩm của dự án là không thích hợp với nhu cầu thị trường, sản phẩm thiếu tính cạnh tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã, công nghệ.