Chương 1: Cơ sở lý luận của việc đánh giá năng suất lao động công nhân xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu bao gồm: qui trình thực hiện nghiên cứu, thu thập dữ liệu từ dữ liệu có được từ nghiên cứu khảo sát bằng bảng câu hỏi và các công trình cụ thể. Chương 3: Các vấn đề năng suất lao động, thực trạng của công nhân xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai: Lý thuyết thống kê được sử dụng để tổng hợp, phân tích 4 các thông số về năng suất lao động, ảnh hưởng của làm thêm giờ đến năng suất lao động và các yếu tố tác động từ bảng câu hỏi khảo sát. Sự gắn bó của công nhân đối với công ty.
Chương 4: Tổng hợp các kết luận từ việc phân tích dữ liệu trong nghiên cứu. Đồng thời, nêu lên các hạn chế và các kiến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo. 5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1.1 Năng suất lao động 1.1 Khái niệm về năng suất lao động Năng suất lao động đã nhận được nhiều sự quan tâm và được thảo luận trong ngành công nghiệp xây dựng trong nhiều năm trước đây. Năng suất về cơ bản, là tỷ số giữa đầu ra và đầu vào trong quá trình thực hiện một qui trình hay tạo ra sản phẩm (Nguyễn Thanh Hùng, 2009).2 Định mức Định mức kỹ thuật: Các tiêu phí lao động được xây dựng trên cơ sở đúng đắn của quá trình sản xuất, sử dụng các yếu tố sản xuất hợp lý về mọi mặt, đảm bảo chất lượng sản phẩm, loại bỏ những tiêu phí bất hợp lý, mang tính chất tiên tiến và hiện thực.
Bao gồm: Định mức lao động: là mức tiêu phí thời gian (lao động) quy định để làm ra 1 đơn vị sản phẩm đảm bảo quy trình tổ chức sản xuất đúng đắn và sử dụng đối tượng lao động và tư liệu lao động có hiệu quả. Về mặt lý thuyết định mức thời gian hoàn toàn khác với định mức lao động. Định mức thời gian nghiên cứu về mặt tốc độ để tạo ra 1 sản phẩm, đơn vị tính là: giờ/ sản phẩm, phút/ sản phẩm… Định mức lao động là mức tiêu phí lao động để tạo ra 1 sản phẩm, đơn vị tính là: người giờ/ sản phẩm, giờ công/, người phút / sản phẩm. Trong thực tế nhiều khi người ta sử dụng hai khái niệm này là một, nhưng phải hiểu rằng chỉ khi nào quy về một công nhân thực hiện thì định mức thời gian mới bằng định mức sản lượng.
Định mức sản lượng: là số sản phẩm hợp quy cách và chất lượng làm ra trong 1 đơn vị thời gian do công nhân có trình độ nghề nghiệp phù hợp thực hiện với điều kiện tổ chức sản xuất đúng đắn. Đơn vị đo của định mức sản lượng rất nhiều, tùy theo loại cụ thể là m3/giờ , cái/phút, m/h… Theo mức độ bao quát của các loại công việc nằm trong định mức: định mức kỹ thuật được phân thành 3 loại 6 Định mức dạng chỉ tiêu: quy định mức hao phí lao động, vật tư và thời gian sử dụng máy cho một đơn vị sản phẩm hoàn chỉnh, như số ngày công xây dựng/1m2 XD, số viên gạch/1m2 XD. Định mức dự toán tổng hợp: quy định mức hao phí lao động, vật tư và thời gian sử dụng máy cho một đơn vị khối lượng công việc xây dựng tổng hợp (bao gồm nhiều loại công việc xây dựng riêng lẽ có liên quan hữu cơ với nhau để tạo nên một vị sản phẩm tổng hợp nào đó), hoặc cho một kết cấu xây dựng hoàn chỉnh nào đó. Định mức dự toàn tổng hợp được dùng để lập đơn giá xây dựng tổng hợp.
Định mức dự toán chi tiết: quy định mức hao phí lao động, vật tư và thời gian sử dụng máy cho một đơn vị khối lượng công việc xây lắp riêng lẽ nào đó. Ví dụ công tác xây, trát, lợp ngói, lát nền… Định mức dự toán chi tiết được dùng để lập đơn giá xây dựng chi tiết (Bộ Xây Dựng, 2005). Các mô hình về năng suất (Nguyễn Thanh Hùng, 2009). Loại mô hình Năng suất Mô tả Mô hình mà đầu vào và đầu ra được đo lường bằng Năng suất tổng quát (TFP)= Lượng sản tiền, phù hợp để đánh giá Kinh tế phẩm/(Nhân công + Vật tư + Máy thi tình trạng nền kinh tế và công+ Năng lượng + Vốn) hoạch định chính sách.
Không phù hợp đánh giá dự án hoặc công trường Năng suất= Lượng sản phẩm/(Nhân Cơ quan chính phủ lên kế công + Vật tư + Máy thi công) hoạch các chương trình cụ Dự án cụ thể Năng suất = Đơn vị khối lượng công thể một cách chính xác việc/số tiền hơn Năng suất lao động= Lượng sản Nhà thầu thường quan tâm Công việc cụ phẩm/Chi phí nhân công đến năng suất lao động thể Năng suất lao động= Lượng sản công tác tại công trường. phẩm/Giờ công lao động Các nhà thầu sử dụng với 7 Năng suất lao độn= Chi phí nhân công đơn vị đầu ra cho các công hoặc giờ công lao động/Lượng sản việc cụ thể (tấn,m2,…) phẩm như cốt thép, cốp pha, bê tông. Trong đề tài nghiên cứu, với mục tiêu về khảo sát và đánh giá năng suất lao động tại công trường nên sử dụng cách định nghĩa theo mô hình công việc cụ thể. Do đó, năng suất lao động trong đề tài này được đánh giá dựa vào số liệu thực tế thông qua môn lý thuyết thống kê.3 So sánh “Định mức lao động” và “Năng suất lao động” Định mức lao động Năng suất lao động Định nghĩa Định mức lao động: là mức Năng suất về cơ bản, là tỷ tiêu phí thời gian (lao động) quy số giữa đầu ra và đầu vào trong định để làm ra 1 đơn vị sản phẩm quá trình thực hiện một qui trình đảm bảo quy trình tổ chức sản hay tạo ra sản phẩm.
xuất đúng đắn và sử dụng đối Năng suất lao động là “sức tượng lao động và tư liệu lao sản xuất của lao động cụ thể có động có hiệu quả ích”. Nó nói lên kết quả hoạt Định mức lao động để thấy động sản xuất có mục đích của được: con người trong một đơn vị thời + Năng suất lao động gian nhất định. Năng suất lao + Giúp người quản lý lao động động được đo bằng số lượng sản dễ dàng tổ chức và quản lý lao phẩm sản xuất ra trong một đơn động vị thời gian, hoặc bằng lượng Định mức lao động còn có ý thời gian hao phí để sản xuất ra nghĩa trong việc xây dựng kế một đơn vị sản phẩm. hoạch sản xuất Bản chất Định mức lao động là cơ sở Bản chất của năng suất lao của tổ chức lao động khoa học.
động chỉ tiêu phản ánh hiệu quả Định mức lao động là cơ sở hay mức hiệu quả lao động. để phân phối theo lao động. Trong cùng một thời gian Định mức lao động là cơ sở năng suất lao động tăng sẽ làm tăng năng suất lao động và giá tăng sản phẩm nhưng giá trị sản thành sản phẩm. phẩm không tăng theo.
Định mức lao động còn là cơ Về bản chất tăng năng suất sở lập kế hoạch sản xuất kinh lao động sẽ làm giảm hao phí lao doanh động trong một đơn vị sản phẩm 9 1.2 Lý thuyết thống kê 1.1 Khái niệm thống kê Một cách tổng quát, ta đi đến định nghĩa về thống kê như sau: Thống kê là hệ thống các phương pháp dùng để thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể (Hà Văn Sơn, 2004). Mọi sự vật, hiện tượng đều có hai mặt chất và lượng không tách rời nhau, và khi chúng ta nghiên cứu đối tượng, điều chúng ta muốn biết đó là bản chất của hiện tượng. Nhưng mặt chất thường ẩn bên trong, còn mặt lượng biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các đại lượng ngẫu nhiên. Do đó phải thông qua các phương pháp xử lý thích hợp trên mặt lượng của số lớn đơn vị cấu thành hiện tượng, tác động của các yếu tố ngẫu nhiên mới được bù trừ và triệt tiêu, bản chất của hiện tượng mới bộc lộ ra và ta có thể nhận thức đúng đắn bản chất, quy luật vận động của nó.2 Một số khái niệm dùng trong thống kê 1.1 Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể: Tổng thể thống kê (còn gọi là tổng thể chung) là tập hợp các đơn vị (hay phần tử) thuộc hiện tượng nghiên cứu, cần quan sát, thu thập và phân tích mặt lượng của chúng theo một hoặc một số tiêu thức nào đó.
Các đơn vị (hay phần tử) cấu thành tổng thể thống kê gọi là đơn vị tổng thể. Đơn vị tổng thể là xuất phát điểm của quá trình nghiên cứu thống kê, vì nó chứa đựng những thông tin ban đầu cần cho quá trình nghiên cứu. Tổng thể trong đó bao gồm các đơn vị (hay phần tử) mà ta có thể trực tiếp quan sát hoặc nhận biết được gọi là tổng thể bộc lộ. (ví dụ: Tổng thể sinh viên của mỗi trường; Tổng thể các doanh nghiệp trên một địa bàn…) Khi xác định tổng thể có thể gặp trường hợp các đơn vị tổng thể không trực tiếp quan sát hoặc nhận biết được, ta gọi đó là tổng thể tiềm ẩn.
Khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội ta thường gặp loại tổng thể này (ví dụ: tổng thể những người đồng ý một vấn đề nào đó; tổng thể những người ưa thích nghệ thuật cải lương…) 10 Tổng thể đồng chất là bao gồm các đơn vị (hay phần tử) giống nhau ở một hay một số đặc điểm chủ yếu có liên quan trực tiếp đến mục đích nghiên cứu. Tổng thể không đồng chất bao gồm các đơn vị (hay phần tử) không giống nhau ở những đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu. Tổng thể thống kê có thể là hữu hạn, cũng có thể được coi là vô hạn (Không thể hoặc khó xác định được con số đơn vị tổng thể). Cho nên khi xác định tổng thể thống kê không những phải giới hạn về thực thể (tổng thể là tổng thể gì), mà còn phải giới hạn về thời gian và không gian (tổng thể tồn tại ở thời gian nào, không gian nào).2 Tổng thể mẫu Tổng thể mẫu là tổng thể bao gồm một số đơn vị được chọn ra từ tổng thể chung theo một phương pháp lấy mẫu nào đó.
Các đặc trưng mẫu được sử dụng để suy rộng ra các đặc trưng của tổng thể chung.3 Quan sát Quan sát là cơ sở để thu thập số liệu và thông tin cần thiết cần nghiên cứu.