CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tóm tắt tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam Đã có nhiều nghiên cứu, hội thảo, mạn đàm về sự bất hợp lý của tình trạng sinh viên ra trường không tìm được việc hoặc làm trái ngành nghề được đào tạo tại trường. Hầu như các nghiên cứu có chiều hướng gia tăng và đưa ra nhiều giải pháp nhằm xây dựng nên một triết lý giáo dục có chất lượng. Các hướng nghiên cứu chỉ ra được những mặt còn tồn tại về chất lượng sinh viên đã và đang học ở các trường ĐH trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Từ đó tìm ra nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan về vấn đề này trong tình hình hiện nay về giáo dục ở các bậc học mà đặc biệt là bậc Đại học.
Từng vấn đề yếu kém được đem ra mổ xẻ bằng các số liệu mình chứng cụ thể và đáng tin cậy từ phía người học, người dạy, chương trình, nhà quản lý giáo dục và thị trường lao động. Đề từ đó tránh được tình trạng đào tạo tràn lan, thiếu chất lượng và hiệu quả gây nên sự lãng phí cho gia đình và xã hội.2 Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài 1.1 Một số nghiên cứu trong nước Theo nghiên cứu của tác giả Trần Anh Tài (2009), “Gắn đào tạo với sử dụng, nhà trường với doanh nghiệp”, ĐH.Quốc gia Hà Nội. Bài viết làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa nhà trường và xã hội, giữa nhà đào tạo và nhà sử dụng lao động ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở phân tích nguyên nhân chủ quan, khách quan của sự lỏng lẻo và chưa gắn chặt của các mối quan hệ này, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần làm cho sản phẩm đào tạo của các trường đại học đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu.
Bài viết cũng nhấn mạnh rằng nguyên nhân của thực trạng chưa gắn kết giữa nhà đào tạo với nhà sử dụng giữa nhà trường với xã hội không thể chỉ nhìn từ phía nhà trường mà còn, thậm chí quan trọng hơn phải nhìn từ phía các nhà sử dụng, từ phía xã hội. Thực tế cho thấy, tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng vẫn tiếp tục diễn 21 ra ở các ngành nghề sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, gỗ, tiếp đó là các ngành nghề về du lịch. Một kết quả điều tra mới đây cho thấy trong chỉ số cầu nguồn nhân lực của 46/56 ngành nghề đã tăng đáng kể và tập trung vào các ngành nghề đòi hỏi chuyên môn và trình độ cao. Chỉ số cầu nhân lực trên thị trường lao động trong quý 2 năm 2007 tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm 2006, đạt trên 15.
Bán hàng là nghề có nhu cầu nguồn nhân lực tăng cao nhất (600 người), tăng 447% so với quý 1 năm 2007. Kế toán, Tài chính Ngân hàng tăng hơn 1.300 người, tiếp đến là Công nghệ thông tin, Hành chính tiếp thị… đều có nhu cầu tăng trên 200%. Bên cạnh số sinh viên tốt nghiệp hàng năm không tìm kiếm được việc làm ngày càng tăng lên, thì số sinh viên có việc làm cũng không đáp ứng được yêu cầu của về chất lượng của các nhà tuyển dụng. Sinh viên các trường đại học sau khi được tuyển dụng vào các doanh nghiệp thường phải được tiếp tục đào tạo 2 đến 3 năm nữa mới có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp, điều này gây lãng phí rất lớn về thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp.
Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới, khoảng 50% công ty may mặc, hoá chất đánh giá lao động được đào tạo không đáp ứng yêu cầu của mình. Khoảng 60% lao động trẻ tốt nghiệp từ các trường dạy nghề và trường cao đẳng cần được đào tạo lại ngay sau khi được tuyển dụng. Một số doanh nghiệp phần mềm cần đào tạo lại ít nhất 1 năm cho khoảng 80 - 90% những sinh viên tốt nghiệp vừa được tuyển dụng. Một hướng nghiên cứu về sự đáp ứng yêu cầu công việc có tính rộng hơn về qui mô các ngành trong lĩnh vực kinh tế của tác giả Ngô Thị Thanh Tùng (2009), “Nghiên cứu đánh giá mức độ đáp ứng với công việc của sinh viên tốt nghiệp Đại Học ngành Kinh tế giai đoạn 2000-2005 thông qua ý kiến người sử dụng lao động của một số doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội”.
“Mục tiêu của giáo dục đại học là cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo ở trình độ nhất định cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Với cách tiếp cận này, chất lượng đào tạo có thể được đánh giá qua năng lực đáp ứng nhu cầu nhân lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương trình đào tạo. Việc xác định rõ được quan niệm về chất lượng, phương pháp đánh giá chất lượng có thể là một cách hiệu quả để đổi mới 22 giáo dục đại học, là một bước đi quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực có đủ trình độ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trên tinh thần đó, nhằm tìm hiểu các vấn đề liên quan đến việc đánh giá chất lượng đào tạo Đại học thông qua ý kiến đánh giá người sử dụng lao động về những lao động có trình độ đại học hiện đang làm việc trong các doanh nghiệp, xí nghiệp như là một phương pháp tiếp cận hiệu quả trong nỗ lực nâng cao chất lượng đào tạo đại học.
Theo tác giả, chất lượng đào tạo là vấn đề quan tâm không chỉ của các nhà quản lý giáo dục, giảng viên, sinh viên mà còn của cả xã hội. Thực tế cho thấy mặc dù giáo dục đại học đã rất nỗ lực nâng cao chất lượng đào tạo trong suốt thời gian qua nhưng thực tế xã hội cho thấy rất nhiều sinh viên ra trường không xin được việc làm và rất nhiều nhà tuyển dụng không tuyển được lao động phù hợp với yêu cầu. Trong nhiều năm trở lại đây, việc tuyển dụng nhân viên của các cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài,. đều trở nên công khai rộng rãi và phổ biến.
Các ngày hội việc làm được tổ chức thường xuyên, đó là nơi gặp gỡ của lãnh đạo các cơ sở sử dụng lao động và những người có nhu cầu việc làm. Số người cần việc làm tham gia các ngày hội việc làm lên đến hàng chục nghìn người, hồ sơ nộp vào các cơ quan thông báo tuyển dụng thường xuyên là hàng trăm, hàng nghìn bộ. Tuy nhiên, theo số liệu của nhà tổ chức chỉ có 30% doanh nghiệp tuyển được người phù hợp trong các ngày hội việc làm và các doanh nghiệp chỉ tuyển được 60% chỉ tiêu đề ra. Các cơ quan, doanh nghiệp có uy tín có khi hàng năm không tìm được người phù hợp vào các vị trí quan trọng trong đơn vị.
Trong khi đó, sinh viên tốt nghiệp đại học hàng năm lên đến hàng chục ngàn người. Dường như đã có một khoảng cách khá xa giữa chương trình đào tạo ở các trường đại học và nhu cầu đặt ra từ thực tế của các doanh nghiệp, cơ quan. Có vẻ như muốn nâng cao chất lượng đào tạo đại học thì một trong những mục tiêu cần phấn đấu là làm cho khoảng cách này trở nên ngắn hơn. Với những cách tiếp cận vấn đề như trên, một nghiên cứu đánh giá mức độ đáp ứng với công việc của sinh viên tốt nghiệp đại học thông qua ý kiến người sử dụng lao động là rất cần thiết.
Một mặt, nghiên cứu sẽ làm rõ về khái niệm chất lượng, chất lượng đào tạo đang được băn khoăn hiện nay, làm rõ phương pháp luận đánh 23 giá chất lượng đào tạo. Mặt khác, nghiên cứu áp dụng lý thuyết liên quan đến đo lường chất lượng đào tạo vào việc đo lường mức độ đáp ứng với công việc của sinh viên đại học sau khi ra trường thông qua cuộc khảo sát thực tế một số doanh nghiệp. Đánh giá được mức độ đáp ứng với công việc của sinh viên tốt nghiệp đại học ngành kinh tế hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một kết quả lớn nhất mà nghiên cứu muốn hướng tới. Cũng theo tác giả, việc xây dựng các tiêu chí đo lường và tiến hành đánh giá mức độ đáp ứng với công việc thực tế của sinh viên đại học nói chung là quá sức đối với một nghiên cứu về lĩnh vực này, nên việc lựa chọn một nhóm ngành cụ thể để xây dựng một công cụ minh hoạ cho phương thức đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp thông qua ý kiến người sử dụng lao động là hết sức cần thiết.
Sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế được coi là phù hợp hơn cả bởi lẽ kinh tế là một ngành quan trọng cho sự phát triển của xã hội, ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển của các lĩnh vực khác, đặc biệt là nhu cầu nhân lực. Trong mỗi thời kỳ khác nhau, nền kinh tế có sự phát triển khác nhau, đòi hỏi số lượng và chất lượng khác nhau của nguồn nhân lực lao động. Nền kinh tế hiện nay với chủ trương gia nhập, hoà nhập, liên kết với bên ngoài rõ ràng đòi hỏi về chất lượng những sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế khác hẳn so với những sinh viên tốt nghiệp 10 hay 15 năm trước đây. Thật ra, tác giả đã tốn công sức rất nhiều khi nghiên cứu mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của sinh viên khối nhóm ngành kinh tế và đây cũng là điểm khác so với nghiên cứu của tôi.
Nghiên cứu của tôi chỉ tập trung vào ngành CNTT và chỉ tập trung vào 2 khóa tốt nghiệp gần nhất là khóa 2006 và 2007 mà thôi, nghĩa là nhóm ngành và đối tượng của tôi nghiên cứu sẽ hẹp hơn so với tác giả.” Một hướng nghiên cứu của tác giả Đỗ Nghiêm Thanh Phương (2004), “Đánh giá mức độ đáp ứng về kiến thức, kỹ năng và thái độ của Cử Nhân tốt nghiệp khoa Giáo Dục Đặc Biệt, trường ĐH. Sư Phạm Hà Nội đối với yêu cầu công việc của các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn Hà Nội”. Hướng nghiên cứu này của tác giả là nhắm vào đối tượng là sinh viên tốt nghiệp ngành sư phạm mà cụ thể là Cử Nhân 24 ngành Giáo Dục Đặc Biệt, hướng nghiên cứu này thì qui mô hẹp hơn nhưng cũng có xu hướng đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu về KIẾN THỨC - KỸ NĂNG – THÁI ĐỘ của những sinh viên tốt nghiệp ngành này tại các đơn vị sử dụng nguồn nhân lực này như.