phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu tham khảo cùng các phụ lục kèm theo. Luận văn cấu trúc 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá năng lực công nghệ thông tin cho giáo viên bậc trung học phổ thông. Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn về kiểm tra đánh giá năng lực công nghệ thông tin giáo viên bậc trung học phổ thông thành phố Cần Thơ Chƣơng 3: Biên soạn câu hỏi đánh giá năng lực công nghệ thông tin cho giáo viên bậc trung học phổ thông. v CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO GIÁO VIÊN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan về vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Trong những năm gần đây đề tài này chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu có hệ thống. Ch có một vài nghiên cứu khoa học và một số bài viết liên quan đến việc ứng dụng năng lực công nghệ thông tin và đánh giá năng lực giáo viên, điển h nh là các đề tài nghiên cứu khoa học sau đây : Năm 2007 c công tr nh nghiên cứu khoa học chuyên ngành Giáo dục học, luận văn thạc sĩ của Trần Minh Hùng “Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng về nâng cao năng lực ứng dụng CNTT cho đội ngũ cán bộ, giảng viên tại trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai” Năm 2009 “Ứng dụng ICT để nâng cao hiệu quả dạy học và đổi mới phương thức đào đạo các bậc học”. Hội thảo Đánh giá năng lực ICT trong dạy học của đội ngũ giáo viên các trƣờng Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề,Trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật TP.
Năm 2010 có công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành Giáo dục học “Đánh giá năng lực ứng dụng CNTT trong giảng dạy của giáo viên các trường chuyên nghiệp, dạy nghề” do Viện Nghiên Cứu Phát Triển Giáo Dục Chuyên Nghiệp, Đại Học Sƣ Phạm Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh chủ tr và TS. Đỗ Mạnh Cƣờng là chủ nhiệm đề tài. Và công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành Đo lƣờng và đánh giá trong Giáo dục, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Hòa, “Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học của giảng viên trường đại học sư phạm - đại học huế”. 1 Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đều tập trung khá nhiều vào việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và nâng cao năng lực giáo viên.
Tuy nhiên việc xây dựng một bộ công cụ chuẩn để đánh giá năng lực công nghệ thông tin cho giáo viên th chƣa đƣợc quan tâm. Hơn nữa, tại thành phố Cần Thơ th chƣa c một nghiên cứu nào về xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giáo viên nhất là đánh giá năng lực CNTT cho giáo viên THPT. Với đề tài :” Biên soạn bộ câu hỏi đánh giá năng lực công nghệ thông tin cho giáo viên bậc trung học phổ thông tại thành phố Cần Thơ” ngƣời nghiên cứu sẽ tiến hành xây dựng bộ câu hỏi đánh giá năng lực của giáo viên trong lĩnh vực sử dụng công nghệ thông tin và tiến hành xác định tính khả thi của bộ câu hỏi đánh giá năng lƣc giáo viên THPT tại thành phố Cần Thơ. Sự phát triển của lí luận đo lƣờng và đánh giá trong giáo dục 1.
Trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết đo lƣờng - đánh giá trong giáo dục, đặc biệt phát triển mạnh ở Hoa Kỳ và Anh. Các ấn phẩm liên quan đến nó đã đƣợc phát hành rộng rãi và có hiệu đính tái bản hàng năm và đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới đ n nhận để sử dụng và tham khảo. Ở châu Âu và đặc biệt là Mỹ lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh vào thời kỳ từ trƣớc và sau thế chiến thứ hai với những dấu mốc quan trọng nhƣ Trắc nghiệm trí tuệ Stanford-Binet xuất bản năm 1916, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào 1923. Với việc đƣa vào chấm trắc nghiệm b ng máy của IBM năm 1935, việc thành lập National Council on Measurement in Education (NCME) vào thập niên 1950 và ra đời Educational Testing Services (ETS) năm 1947, một ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ.
Từ đ đến nay khoa học về đo lƣờng trong tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục, những phê bình ch trích đối với khoa học này cũng xuất hiện thƣờng xuyên nhƣng chúng không đánh đổ đƣợc nó mà ch làm cho nó tự điều ch nh và phát triển mạnh mẽ hơn. Hiện nay ở Mỹ ƣớc tính mỗi năm số lƣợt trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá cỡ 1/4 tỷ và trắc nghiệm do giáo viên soạn lên đến con số 5 tỷ[47]. Tƣơng ứng với ngành công nghiệp trắc nghiệm 2 đồ sộ và sự phát triển của công nghệ thông tin, lý thuyết về kiểm tra đánh giá n i chung trong giáo dục cũng phát triển nhanh. Ở Việt Nam, khoa học về đo lƣờng và đánh giá trong giáo dục trƣớc đây trong tình trạng khá lạc hậu và chậm phát triển đến nay ngành khoa học này vẫn còn khá mới và non trẻ ở nhiều trƣờng đại học.
Trƣớc năm 1975 ở Miền Nam có vài ngƣời đƣợc đào tạo về khoa học này từ các nƣớc phƣơng tây, trong đó có giáo sƣ Dƣơng Thiệu Tống. Vào năm 1974 một hoạt động đáng lƣu ý là kỳ thi tú tài lần đầu tiên đƣợc tổ chức ở Miền Nam b ng phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ)[35]. Ở miền Bắc nƣớc ta trƣớc đây khoa học này ít đƣợc lƣu ý vì trong hệ thống các nƣớc xã hội chủ nghĩa cũ kể cả Liên Xô, khoa học này rất kém phát triển. Vào những năm sau 1975 ở phía Bắc nƣớc ta có một số ngƣời có nghiên cứu về khoa học đo lƣờng trong tâm lý[34].
Ch đến năm 1993 Bộ Giáo dục và Đào tạo mới mời một số chuyên gia nƣớc ngoài vào nƣớc ta, xuất bản sách phổ biến về khoa học này (Q. Stordahl, 1996), cũng nhƣ cử một số cán bộ ra nƣớc ngoài học tập. Từ đ một số trƣờng đại học có tổ chức các nhóm nghiên cứu áp dụng các phƣơng pháp kiểm tra trong giáo dục để thiết kế các công cụ đánh giá, soạn thảo các phần mềm hỗ trợ, mua máy quét quang học chuyên dụng (OMR) để chấm thi. Một điểm mốc đáng ghi nhận là kỳ thi tuyển sinh đại học thí điểm tại trƣờng Đại học Đà Lạt vào tháng 7 năm 1996 b ng phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan mà sự thành công tốt đẹp của nó đƣợc Hội nghị rút kinh nghiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo vào tháng 9 năm đ khẳng định (Kỳ thi có 7200 thí sinh dự tuyển, 2 loại đề trắc nghiệm và tự luận đƣợc sử dụng để thí sinh tự chọn.
Có khoảng 70% lƣợt thí sinh chọn đề trắc nghiệm, chấm thi b ng máy Opscan - 7, trong khoảng 60 trƣờng hợp vi phạm kỹ luật thi do quay cóp thì ch có 4 thí sinh từ nhóm làm trắc nghiệm)[1]. Từ sau năm 1997 các hoạt động đổi mới phƣơng pháp kiểm tra đánh giá trong giáo dục ở các trƣờng đại học lắng xuống. Cho đến mùa thi tuyển đại học năm 2002 Bộ Giáo dục và Đào tạo mới tổ chức kỳ thi tuyển đại học “3 chung”. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng thành lập “Cục Khảo thí và Kiểm định chất lƣợng” vào năm 2003 để cải tiến việc thi cử và đánh giá chất lƣợng 3 các trƣờng đại học, và đã dùng phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan để làm đề thi tuyển đại học vào mùa thi 2005[33].
Tuy vậy, khó khăn trên con đƣờng đổi mới giáo dục nói chung, phát triển khoa học về kiểm tra đánh giá trong giáo dục vẫn còn nhiều điều trăn trở. Việc kiểm tra đánh giá kiến thức (lý thuyết) và kiểm tra đánh giá kỹ năng (thực hành) cho đối tƣợng ngƣời học hiện nay là hai thành tố mà khoa học đo lƣờng trong giáo dục đề cập tới. Trong đ kiểm tra đánh giá hiện đại về mặt lý thuyết thông qua kiểm tra trắc nghiệm (Test) và kiểm tra đánh giá về mặt thực hành thông qua tiêu chí tiêu chuẩn (Check lisk). Sự phát triển của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 1.Trên thế giới.
Nghiên cứu phát triển ứng dụng CNTT trong giáo dục phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới. Nghiên cứu phát triển ứng dụng CNTT trong giáo dục phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ; ở châu Âu cũng c rất nhiều triển vọng, trong khi đ châu Á là khu vực nghiên cứu phát triển ứng dụng ứng dụng CNTT ít hơn. Tại Mỹ và các nƣớc châu Âu những nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục không còn là vấn đề mới chính vì thế dạy và học điện tử đã nhận đƣợc sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ. Tại một số nƣớc ở châu Á, ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai chƣa c nhiều thành công vì một số lý do nhƣ: Các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ nạn quan liêu, sự ƣa chuộng đào tạo truyền thống của văn h a châu Á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu Á.
Tuy vậy, các quốc gia châu Á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể thiếu đƣợc mà ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục mang lại. Một số quốc gia đặc biệt là các nƣớc có nền kinh tế phát triển hơn tại châu Á cũng đang c những biện pháp nỗ lực phát triển ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục tại đất nƣớc m nh nhƣ : Hàn Quốc, Nhật Bản Singapore Đài Loan Trung Quốc … 4 1. Ở Việt Nam Hiện nay, việc nghiên cứu quản lý và ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam đã đƣợc nhiều đơn vị quan tâm hơn. Gần đây các hội nghị, hội thảo hay trong các đề tài nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin và giáo dục đều c đề cập nhiều đến vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trƣờng đào tạo ở Việt Nam.
Thế kỷ XXI với sự phát triển mạnh của mạng bƣu chính viễn thông đã h nh thành nên xa lộ thông tin để ngƣời dân đặc biệt là giáo viên và học sinh c điều kiện tiếp cận CNTT. Số ngƣời sử dụng máy tính kết nối internet ở Việt Nam tăng nhanh cao hơn cả Thái Lan và Trung Quốc.