Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới tại Việt Nam là chiến lược phát triển toàn diện nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa khu vực thành thị và nông thôn. Tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, công cuộc xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011–2018 đã huy động nguồn lực xã hội hóa rất lớn, ghi nhận sự chung tay đóng góp của người dân với tổng kinh phí quy đổi đạt gần 100 tỷ đồng, bao gồm 4.717,8 m² đất thổ cư, 466.814,9 m² đất nông nghiệp và hơn 66.000 ngày công lao động. Toàn huyện đã cứng hóa trên 2.500 km đường giao thông nông thôn và đầu tư nâng cấp hàng trăm trường học với nguồn vốn ngân sách vượt 877 tỷ đồng cho giao thông và 750 tỷ đồng cho mạng lưới giáo dục.

Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng thực tế của nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật vẫn chưa tương xứng với quy mô đầu tư. Tình trạng thi công thiếu đồng bộ, đường giao thông nhanh xuống cấp do thiếu rãnh thoát nước và hệ thống chiếu sáng, cùng với việc các trường mầm non thiếu thốn trang thiết bị sân chơi ngoài trời sau giải phóng mặt bằng đã gây ra nhiều phản ánh trái chiều từ cộng đồng. Khoảng cách giữa chất lượng kỹ thuật hoàn thiện và kỳ vọng thụ hưởng thực tế khiến việc duy trì, huy động nguồn lực nhân dân cho các giai đoạn tiếp theo gặp không ít rào cản.

Đề tài nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với việc sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Mỹ Đức tập trung phân tích hai nhóm công trình trọng điểm là đường trục thôn và trường mầm non tại ba xã đại diện gồm Hương Sơn, Mỹ Thành và An Phú. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016–2018 kết hợp khảo sát sơ cấp giai đoạn 2018–2019 với 285 hộ dân thụ hưởng. Kết quả nhằm định lượng sự hài lòng, xác định các yếu tố trọng yếu chi phối và kiến nghị giải pháp quản lý kinh tế khả thi, nâng cao hiệu quả đầu tư công ích, hướng tới chuẩn hóa chỉ số hài lòng đạt trên 4,0/5,0 điểm Likert trong giai đoạn phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Kỳ vọng – Xác nhận của Oliver (1980) và Mô hình Chỉ số Hài lòng Khách hàng Hoa Kỳ (ACSI, 2008). Theo thuyết Kỳ vọng – Xác nhận, sự hài lòng là kết quả của sự so sánh tâm lý giữa kỳ vọng trước khi sử dụng và giá trị cảm nhận thực tế sau quá trình thụ hưởng. Nếu dịch vụ công đáp ứng hoặc vượt mong đợi, trạng thái hài lòng tích cực sẽ xuất hiện, thúc đẩy tính tự giác gìn giữ và đóng góp cộng đồng.

Mô hình ACSI xác lập mối quan hệ tương hỗ giữa sự mong đợi, chất lượng cảm nhận và giá trị cảm nhận để giải thích mức độ hài lòng cũng như các hành vi than phiền hoặc gắn kết trung thành. Khung lý thuyết này được hiệu chỉnh phù hợp với lĩnh vực quản lý kinh tế công, tích hợp các văn bản quy chuẩn quốc gia gồm: Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 về 8 tiêu chí hạ tầng kỹ thuật nông thôn mới; Tiêu chuẩn kỹ thuật đường giao thông nông thôn của Bộ Giao thông Vận tải (2014) quy định đường trục thôn đạt tốc độ tính toán 15 km/h, bề rộng mặt đường tối thiểu 4m; và Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015) quy định định mức diện tích khuôn viên trường mầm non đạt tối thiểu 12 m²/trẻ, diện tích phòng sinh hoạt chung từ 1,5–1,8 m²/trẻ.

Các công trình thực nghiệm quốc tế như nghiên cứu của Cesar Calderon và Luis Serven (2004) trên 121 quốc gia chỉ ra rằng hạ tầng kỹ thuật chiếm từ 40%–60% tổng vốn đầu tư công ở các nước đang phát triển và có tác động trực tiếp đến giảm bất bình đẳng thu nhập. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Thị Tuý (2006) khẳng định đầu tư hạ tầng giao thông và phúc lợi giáo dục tạo ra tác động lan tỏa mạnh mẽ nhất đối với sự phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo kinh tế – xã hội của UBND huyện Mỹ Đức giai đoạn 2016–2018 và số liệu sơ cấp điều tra thực địa giai đoạn 2018–2019. Địa bàn khảo sát gồm 3 xã đại diện cho 3 phân tầng phát triển: xã Hương Sơn (đã đạt chuẩn nông thôn mới, tự cân đối ngân sách), xã Mỹ Thành (đang phấn đấu đạt chuẩn), và xã An Phú (xã miền núi, đồng bào dân tộc Mường, điều kiện kinh tế khó khăn).

Quy mô mẫu được xác định dựa trên tiêu chuẩn phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy đa biến theo quy tắc của Tabachnick & Fidell (1991) với công thức n ≥ 8k + 50 (trong đó k là số biến độc lập). Với 22 biến quan sát đối với trường mầm non và 19 biến quan sát đối với đường trục thôn, kích thước mẫu tối thiểu cần đạt là 226 quan sát. Nhằm bù đắp tỷ lệ sai số và hao hụt phiếu khoảng 20%–25%, tác giả tiến hành khảo sát ngẫu nhiên phân tầng 95 hộ dân tại mỗi xã, tạo lập tổng cỡ mẫu hợp lệ gồm 285 mẫu điều tra.

Quy trình xử lý dữ liệu định lượng được thực hiện qua các bước nghiêm ngặt:

  • Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha (yêu cầu hệ số Alpha ≥ 0,6 và hệ số tương quan biến – tổng Corrected Item-Total Correlation ≥ 0,3).
  • Phân tích nhân tố khám phá EFA sử dụng phép trích Principal Component Analysis và phép xoay Varimax, đảm bảo chỉ số KMO đạt từ 0,5 đến 1,0, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05), giá trị Eigenvalue > 1 và tổng phương sai trích Cumulative % of Variance ≥ 50%.
  • Phân tích hồi quy tuyến tính bội OLS để lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố lên sự hài lòng chung, đánh giá độ phù hợp mô hình thông qua R² hiệu chỉnh và kiểm định ANOVA F-test.
  • Kiểm định Independent-Samples T-test và One-Way ANOVA để so sánh sự khác biệt về mức độ hài lòng theo các biến nhân khẩu học như thu nhập và hình thức đóng góp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê mô tả thang đo Likert 5 mức độ trên 285 phiếu khảo sát cho thấy mức độ hài lòng chung của người dân đối với trường mầm non đạt điểm trung bình 3,65/5,0 – mức trên trung bình nhưng chưa đạt ngưỡng hài lòng hoàn toàn (ngưỡng 4,0/5,0). Thành phần có điểm đánh giá cao nhất là Vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng cháy chữa cháy với 4,28/5,0 điểm. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy có 5 nhân tố tác động có ý nghĩa thống kê đến sự hài lòng đối với trường mầm non. Trong đó, nhân tố Khu vui chơi ngoài trời tạo ra tác động mạnh mẽ nhất đến cảm nhận của phụ huynh, tiếp đến là điều kiện vệ sinh an toàn, cơ sở vật chất phòng ngủ, khả năng đáp ứng mong đợi, và nhân tố có hệ số tác động thấp nhất là cơ sở vật chất phòng sinh hoạt chung.

Đối với công trình đường trục thôn, mức độ hài lòng chung ghi nhận ở mức dưới hài lòng, đạt điểm trung bình 3,51/5,0 điểm. Mô hình hồi quy xác định 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, bao gồm: Chất lượng nền và mặt đường; Hệ thống phụ trợ (biển báo, đèn chiếu sáng ban đêm, cây xanh); Khả năng đáp ứng mong đợi; và Quá trình tổ chức sử dụng. Trong đó, Chất lượng nền và mặt đường là biến số có hệ số hồi quy chuẩn hóa cao nhất, đóng vai trò then chốt chi phối sự thỏa mãn của người tham gia giao thông.

Xét trên bình diện toàn huyện Mỹ Đức giai đoạn 2008–2018, quy mô kết cấu hạ tầng có sự tăng trưởng vượt bậc: tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tăng từ 17% (13/76 trường năm 2008) lên 49,3% (38/77 trường năm 2018), số phòng học kiên cố tăng thêm 514 phòng (đạt 1.136 phòng); hệ thống lưới điện phủ kín 100% số hộ dân với 80 trạm biến áp xây mới và 117,8 km đường dây các loại; tỷ lệ kiên cố hóa đường trục xã đạt 107,9 km, đường trục thôn đạt 182 km, đường ngõ xóm đạt 431 km.

Thảo luận kết quả

Thực trạng khảo sát phản ánh rõ những điểm nghẽn kỹ thuật và quản lý dẫn đến sự chưa hài lòng của người dân. Đối với trường mầm non, nguyên nhân không hài lòng tập trung vào sự thiếu hụt diện tích phòng sinh hoạt và phòng ngủ tại các điểm trường lẻ, khuôn viên chật hẹp, cổng trường chưa thông thoáng, và đặc biệt là sự nghèo nàn về đồ chơi vận động ngoài trời, thiếu cây xanh bóng mát phù hợp với lứa tuổi mầm non. Mặc dù nhiều gia đình đã tự nguyện hiến đất xây trường, việc bố trí kinh phí mua sắm thiết bị chuyên môn chậm trễ khiến công trình chưa phát huy tối đa công năng.

Đối với hệ thống đường trục thôn, tình trạng thiếu đồng bộ là nguyên nhân cốt lõi. Mặt đường bê tông dù được mở rộng nhưng thiếu rãnh thoát nước có nắp đậy, dẫn tới ứ đọng nước thải sinh hoạt và giảm tuổi thọ công trình. Hệ thống đèn chiếu sáng ban đêm và biển cảnh báo an toàn giao thông gần như vắng bóng tại các xã trung bình và nghèo như Mỹ Thành, An Phú. Hiện tượng người dân tự ý đào cắt mặt đường để lắp đặt đường ống nước, đường điện hoặc tập kết vật liệu xây dựng bừa bãi gây cản trở giao thông nghiêm trọng.

Về mặt biểu diễn dữ liệu, sự chênh lệch cảm nhận giữa các nhóm xã có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ mạng nhện (Radar Chart) so sánh 5 khía cạnh chất lượng trường học, kết hợp biểu đồ cột ghép (Clustered Bar Chart) thể hiện điểm số hài lòng trung bình phân tổ theo 3 nhóm xã và các khung thu nhập. Dữ liệu thực tế cho thấy các hộ có mức thu nhập cao hơn hoặc có mức đóng góp kinh phí đối ứng trực tiếp thường đặt ra kỳ vọng khắt khe hơn đối với chất lượng hoàn thiện của công trình.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các bài học quốc tế từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc thập niên 1970 và mô hình phát triển nông thôn tự quản của Nhật Bản. Khi người dân được trao quyền tự chủ trong khâu lập quy hoạch, trực tiếp tham gia thẩm định thiết kế và giám sát chất lượng thi công, mức độ chấp nhận và mức độ hài lòng về công trình công ích luôn đạt giá trị tối ưu, hạn chế triệt để tình trạng lãng phí đầu tư.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng sử dụng và chỉ số hài lòng của người dân đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật nông thôn mới, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp quản trị đồng bộ:

Thứ nhất, hoàn thiện công tác lập, công bố và quản lý quy hoạch xây dựng chi tiết (Chủ thể thực hiện: UBND huyện Mỹ Đức chủ trì, phối hợp UBND các xã).

  • Tiến hành rà soát, điều chỉnh 100% đồ án quy hoạch hạ tầng giao thông và mạng lưới trường mầm non giai đoạn 2020–2025.
  • Bắt buộc tích hợp thiết kế hào kỹ thuật chìm, rãnh thoát nước có tấm đan chịu lực và hành lang trồng cây xanh trước khi phê duyệt dự án, mục tiêu loại bỏ hoàn toàn việc đào bới lòng đường phát sinh sau khi đưa vào khai thác.

Thứ hai, tái cơ cấu nguồn vốn đầu tư công, tập trung dứt điểm không dàn trải (Chủ thể thực hiện: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng).

  • Phân bổ tối thiểu 35%–40% tổng nguồn vốn đầu tư công hàng năm cho các hạng mục phụ trợ thiết yếu tại các xã phấn đấu đạt chuẩn và xã vùng sâu vùng xa.
  • Đảm bảo 100% công trình trường mầm non xây mới phải được cấp đủ kinh phí lắp đặt thiết bị sân chơi ngoài trời đạt chuẩn, hệ thống phòng cháy chữa cháy tự động và bếp ăn một chiều trong thời hạn tối đa 12 tháng kể từ khi hoàn thành phần thô.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng (Chủ thể thực hiện: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện và các xã, đại diện cộng đồng dân cư).

  • Tổ chức lấy ý kiến tham vấn công khai tối thiểu 80% đại diện hộ dân thụ hưởng trực tiếp trước khi khởi công công trình.
  • Thực hiện kiểm tra định kỳ 2 lần/tháng về chất lượng cốt thép, mác bê tông mặt đường và quy chuẩn an toàn trường học; trao quyền kiến nghị tạm dừng thi công khi phát hiện sai phạm quy chuẩn kỹ thuật.

Thứ tư, thiết lập quy chế quản lý, vận hành và duy tu bảo dưỡng sau đầu tư (Chủ thể thực hiện: UBND cấp xã, Ban lãnh đạo các thôn, cụm dân cư).

  • Ban hành quy ước thôn về bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, xử phạt nghiêm 100% các hành vi lấn chiếm lòng đường, đổ phế thải hoặc tự ý đào xới công trình.
  • Trích lập quỹ bảo dưỡng thường xuyên từ ngân sách xã kết hợp đóng góp tự nguyện của cộng đồng với định mức 15%–20% chi phí sửa chữa định kỳ hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách cấp huyện, xã: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về phản ứng của người dân đối với các tiêu chí hạ tầng nông thôn mới, hỗ trợ xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn và nâng cao chất lượng tiêu chí 02 (Giao thông) và tiêu chí 05 (Trường học).
  2. Học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Quản lý Kinh tế và Kinh tế Phát triển: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh kết hợp phương pháp luận phân tích định lượng (EFA, OLS, ANOVA), đóng vai trò tài liệu tham khảo chuẩn mực để phát triển các đề tài đo lường sự hài lòng trong khu vực dịch vụ công.
  3. Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và các tổ chức đoàn thể địa phương: Hướng dẫn chi tiết cách thức xây dựng bộ câu hỏi khảo sát Likert, phương pháp thu thập phản hồi của nhân dân để thực hiện giám sát độc lập đối với các nhà thầu thi công trên địa bàn.
  4. Đơn vị tư vấn thiết kế và doanh nghiệp thi công xây dựng hạ tầng kỹ thuật: Cung cấp góc nhìn thực tế về các chi tiết kỹ thuật phụ trợ (chiếu sáng, thoát nước, thiết bị vui chơi) thường bị xem nhẹ trong hồ sơ thiết kế nhưng lại chi phối trực tiếp đến chỉ số nghiệm thu xã hội của công trình.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nghiên cứu lại chọn 3 xã Hương Sơn, Mỹ Thành và An Phú để tiến hành khảo sát?

Ba xã này đại diện cho 3 nhóm điều kiện kinh tế – xã hội đặc trưng của huyện Mỹ Đức: Hương Sơn là xã phát triển mạnh về du lịch, tự cân đối ngân sách và đã đạt chuẩn nông thôn mới; Mỹ Thành đại diện cho nhóm nông nghiệp đang trong giai đoạn phấn đấu; còn An Phú là xã miền núi khó khăn có đồng bào dân tộc Mường sinh sống. Sự phân tầng này đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy cao cho dữ liệu khảo sát.

Nhân tố nào tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của người dân đối với trường mầm non?

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy nhân tố Khu vui chơi ngoài trời của trẻ có hệ số tác động chuẩn hóa cao nhất đến sự hài lòng chung. Người dân đặc biệt quan tâm đến không gian rèn luyện thể chất, đồ chơi an toàn và cảnh quan bóng mát xanh sạch cho trẻ nhỏ, vượt trên cả sự quan tâm thuần túy về diện tích phòng học thông thường.

Vì sao nhiều tuyến đường trục thôn đã được bê tông hóa nhưng điểm hài lòng vẫn ở mức thấp?

Nguyên nhân chủ yếu do hạ tầng thiếu đồng bộ. Mặt đường bê tông hóa nhưng thiếu rãnh thoát nước dẫn đến ngập úng cục bộ, thiếu hệ thống chiếu sáng ban đêm gây mất an toàn giao thông, và tình trạng lòng đường nhỏ hẹp bị người dân chiếm dụng đổ vật liệu xây dựng hoặc tự ý đào xới để kéo dây cáp, đường ống sinh hoạt.

Mô hình nghiên cứu trong luận văn có thể áp dụng cho các huyện ngoại thành khác không?

Khung nghiên cứu dựa trên mô hình ACSI và thang đo Likert 5 mức độ cùng quy trình xử lý Cronbach’s Alpha, EFA, OLS hoàn toàn có thể chuyển giao, áp dụng cho các địa phương ngoại thành khác có điều kiện kinh tế – hạ tầng tương đồng nhằm đánh giá hiệu quả chương trình nông thôn mới nâng cao.

Người dân đóng góp những nguồn lực gì trong công tác xây dựng hạ tầng tại Mỹ Đức?

Giai đoạn nghiên cứu ghi nhận nhân dân huyện Mỹ Đức đã đóng góp tổng kinh phí quy đổi gần 100 tỷ đồng, bao gồm 4.717,8 m² đất thổ cư, 466.814,9 m² đất nông nghiệp cho công tác giải phóng mặt bằng, cùng hơn 66.000 ngày công lao động trực tiếp và các khoản tiền mặt đối ứng xây dựng đường xóm, trường học.

Kết luận

  • Hệ thống hóa khung lý thuyết đánh giá sự hài lòng công chúng đối với hạ tầng kỹ thuật nông thôn mới dựa trên mô hình ACSI và thuyết Kỳ vọng – Xác nhận.
  • Đánh giá thực nghiệm qua 285 mẫu khảo sát chỉ ra sự hài lòng về trường mầm non đạt 3,65/5,0 điểm và đường trục thôn đạt 3,51/5,0 điểm, phản ánh sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng đáng kể.
  • Xác định Khu vui chơi ngoài trời và Chất lượng nền mặt đường là hai biến số trọng yếu nhất chi phối trực tiếp đến quyết định đánh giá của cộng đồng dân cư.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp toàn diện về quy hoạch hạ tầng, tập trung vốn, trao quyền giám sát cộng đồng và thiết lập cơ chế duy tu bảo dưỡng giai đoạn 2020–2025.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu tiếp theo bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM cho toàn bộ 8 nhóm tiêu chí hạ tầng kỹ thuật nông thôn mới nâng cao trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý quan tâm có thể tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu để khai thác chi tiết bộ câu hỏi khảo sát và hệ thống bảng ma trận xoay nhân tố phục vụ cho công tác chuyên môn.