Mối liên hệ giữa đa hình gen PRLC2161 và khả năng đẻ trứng ở gà: Nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp

Đánh giá mối liên quan giữa đa hình gen prlc2161 và khả năng sản xuất trứng ở gà, cung cấp thông tin hữu ích cho nghiên cứu chăn nuôi.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

46
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

2. DANH MỤC BẢNG

3. DANH MỤC HÌNH

4. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

5. TÓM TẮT

6. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

7. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

7.1. Thông tin về đối tượng nghiên cứu: Gà Liên Minh

7.2. Mối liên quan giữa đa hình gen và khả năng sinh sản

7.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng trứng ở gà

7.4. Khả năng sinh sản ở gia cầm

7.5. Phân tích đa hình gen và mối liên quan với khả năng sản xuất trứng ở gà

7.6. Nghiên cứu đa hình gen liên quan đến các tính trạng sinh sản ở gà trên thế giới

7.7. Đa hình gen mã hóa Prolactin (PRL)

8. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

8.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

8.2. Vật liệu nghiên cứu

8.3. Hóa chất và thiết bị

8.4. Dụng cụ và thiết bị

8.5. Nội dung nghiên cứu

8.6. Phương pháp nghiên cứu

9. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

9.1. Kết quả phân tích đa hình gen PRL/C2161G bằng kỹ thuật PCR-RFLP

9.1.1. Kết quả khuếch đại đoạn gen PRL/C2161G bằng phản ứng PCR

9.1.2. Kết quả phân tích đa hình đoạn gen PRL bằng enzyme Csp6I

9.1.3. Kết quả phân tích tần số alen/kiểu gen

9.1.4. Kết quả theo dõi kiểu hình liên quan đến tính trạng sinh sản ở gà

9.1.5. Kết quả đánh giá mối liên quan giữa đa hình gen PRL với khả năng sản xuất trứng ở gà Liên Minh

10. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá mối liên hệ giữa đa hình gen PRLC2161khả năng đẻ trứng ở gà Liên Minh, một giống gà bản địa quý của Việt Nam. Mục tiêu chính là xác định mối quan hệ giữa đa hình nucleotide (SNP) tại vị trí C-2161G của gen PRL và các chỉ tiêu sinh sản như tỷ lệ đẻ, sản lượng trứng, và khối lượng trứng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp PCR-RFLP để phân tích đa hình gen và đánh giá tác động của nó lên năng suất đẻ trứng của gà Liên Minh.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan giữa đa hình gen PRL/C2161G và các chỉ tiêu sinh sản như tỷ lệ đẻ, sản lượng trứng, và khối lượng trứng ở gà Liên Minh. Các chỉ tiêu được theo dõi bao gồm ngày bắt đầu đẻ trứng, số lượng trứng, khối lượng trứng đầu tiên, và chỉ số hình dạng trứng. Nghiên cứu cũng phân tích tần số alen/kiểu gen và mối tương quan với khả năng sản xuất trứng.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp PCR-RFLP để phân tích đa hình gen PRL/C2161G. DNA tổng số được tách chiết từ 85 mẫu máu của gà Liên Minh. Kết quả phân tích cho thấy tần số kiểu gen CC (0,01), CG (0,26), và GG (0,73). Nghiên cứu cũng theo dõi các chỉ tiêu sinh sản trong 16 tuần từ tuần 25 đến tuần 40 tuổi.

II. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy đa hình gen PRL/C2161G có tác động đáng kể đến khả năng sản xuất trứng của gà Liên Minh. Gà mái mang kiểu gen CG có số lượng trứng cao nhất (496 quả) và tỷ lệ đẻ 29,5%. Khối lượng trứng trung bình của gà mang gen CG là 44,547 ± 4,561 gram. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kiểu gen CG có lợi thế về mặt di truyền so với các kiểu gen khác.

2.1. Phân tích đa hình gen

Kết quả phân tích đa hình gen PRL/C2161G bằng phương pháp PCR-RFLP cho thấy tần số kiểu gen CC (0,01), CG (0,26), và GG (0,73). Kiểu gen CG được xác định là có lợi thế về mặt di truyền, với số lượng trứng và tỷ lệ đẻ cao hơn so với các kiểu gen khác.

2.2. Mối liên quan giữa đa hình gen và khả năng sinh sản

Nghiên cứu xác định mối liên quan giữa đa hình gen PRL/C2161Gkhả năng sản xuất trứng ở gà Liên Minh. Gà mái mang kiểu gen CG có số lượng trứng cao nhất (496 quả) và tỷ lệ đẻ 29,5%. Khối lượng trứng trung bình của gà mang gen CG là 44,547 ± 4,561 gram. Kết quả này cho thấy kiểu gen CG có tác động tích cực đến năng suất đẻ trứng.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển giống gà Liên Minh. Kết quả phân tích đa hình gen PRL/C2161G và mối liên quan với khả năng sản xuất trứng có thể được ứng dụng trong chọn lọc giống để cải thiện năng suất đẻ trứng. Nghiên cứu cũng góp phần vào việc phát triển các phương pháp di truyền phân tử trong chăn nuôi gia cầm.

3.1. Ứng dụng trong chọn lọc giống

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong chọn lọc giống để cải thiện năng suất đẻ trứng của gà Liên Minh. Việc xác định kiểu gen CG có lợi thế về mặt di truyền giúp các nhà chăn nuôi lựa chọn giống gà có khả năng sinh sản cao hơn.

3.2. Đóng góp cho nghiên cứu di truyền

Nghiên cứu góp phần vào việc phát triển các phương pháp di truyền phân tử trong chăn nuôi gia cầm. Kết quả phân tích đa hình gen PRL/C2161G và mối liên quan với khả năng sản xuất trứng cung cấp thông tin quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về di truyền họcsinh sản gia cầm.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Hiện nay ở Việt Nam, giống gà bản địa không chỉ là nguồn nguyên liệu đa dạng và quý giá cho bảo tồn đa dạng nguồn gen mà còn là giống nền để lai tạo với gà cao sản nhằm cải thiện tính trạng năng suất gà địa phương (Fassill và cs. Việc phát triển chăn nuôi gà bản địa khá nổi trội, do chúng chịu đựng được khí hậu ngày càng khắc nghiệt ở địa phương, thường có khả năng đề kháng cao với một số loại bệnh. Đặc biệt là khi mà các nguồn gà nhập từ nước ngoài có vấn đề về an toàn thực phẩm và chất lượng không phù hợp với thói quen ẩm thực của người Việt Nam. Đa phần người miền Bắc thích ăn thịt gà luộc, luộc vừa phải không nhừ quá, “hơi dai, chắc thịt”.

Gà bản địa nuôi thả vườn đảm bảo cho loại thịt như thế. Còn gà công nghiệp thì thịt không được đảm bảo chất lượng. Gà Liên Minh là một giống gà bản địa quý của thôn Liên Minh, xã Trân Châu, huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Giống gà này to cao, chân và cổ dài, lông mượt và da vàng óng.

Gà trống có thể nặng tới 5 kg, gà mái tới 3 kg. Đàn gà thường khỏe mạnh, rất ít khi bị dịch bệnh. Ngoài với hình thức đẹp ra gà Liên Minh còn nổi tiếng bởi chất lượng. Thịt thơm và mềm, ngọt, da giòn, vàng tươi rất bắt mắt.

Gà Liên Minh thích hợp với nuôi chăn thả, chịu đựng tốt điều kiện thức ăn nghèo dinh dưỡng, khả năng đề kháng rất cao. Giá gà Liên Minh khá cao thường dao động trong khoảng từ 200 đến 220 nghìn đồng/kg. Hiệu quả kinh tế khi chăn nuôi gà Liên Minh cao hơn so với các giống gà ngoại nhập khác, giúp người dân địa phương tăng đáng kể thu nhập và góp phần xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên năng suất trứng của gà Liên Minh tương đối thấp chỉ dao động trong khoảng 70 – 80 quả/mái/năm và khối lượng trứng trung bình đạt khoảng 45g.

Bên cạnh đó, tính đến tuổi trưởng thành tỷ lệ gà mái chỉ chiếm 30 – 35% tổng đàn. Do vậy người dân gặp khá nhiều khó khăn trong việc phát triển đàn, tăng con giống ở gà Liên Minh Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sinh học, việc cải thiện khả năng sinh trưởng, sinh sản ở vật nuôi cũng được quan tâm nhiều hơn. Ngoài phương pháp cải thiện chất lượng thức ăn chăn nuôi thì việc áp dụng kỹ thuật di truyền phân tử trong chọn lọc giống cũng đang được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng trên nhiều giống 1 động vật khác nhau và mang lại nhiều kết quả khả quan. Để khai thác và phát triển giống gà Liên Minh được tốt nhất thì việc cải thiện khả năng sinh sản của giống gà này là một mục tiêu quan trọng.

Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ĐÁNH GIÁ MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐA HÌNH GEN PRL/C2161G VỚI KHẢ NĂNG SẢN XUẤT TRỨNG Ở GÀ LIÊN MINH” Nghiên cứu này tiến hành phân tích đa hình đột biến tại vị trí C- 2161G của PRL và tương quan di truyền giữa tần số allele/ kiểu gen với tính trạng sản xuất trứng ở giống gà Liên Minh. Thông tin này nhằm góp phần bảo tồn và phát triển giống gà Liên Minh tại Cát Bà - Hải Phòng. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được mối liên quan giữa đa hình của gen PRL/C2161G lên tỷ lệ đẻ, sản lượng trứng, khối lượng trứng gà Liên Minh. Yêu cầu • Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản của 03 lô gà Liên Minh trong 16 tuần từ 25 tuần tuổi đến 40 tuần tuổi.

• Tách chiết ADN tổng số từ mẫu máu của 85 cá thể gà Liên Minh. • Khuếch đại đoạn gen PRL/C2161G. • Phân tích đa hình đoạn gen PRL/C2161G bằng enzyme cắt giới hạn Csp6I. • Đánh giá mối liên quan giữa đa hình gen PRL/C2161G với các chỉ tiêu sinh sản ở gà Liên Minh.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Thông tin về đối tƣợng nghiên cứu: Gà Liên Minh Thôn Liên Minh -Xã Trân Châu - Huyện Cát Hải - Thành phố Hải Phòng được coi là “đảo của đảo”.Nằm trong khu dự trữ sinh quyển của Cát Bà, thôn Liên Minh là nơi có địa hình cao nhất trên đảo mà có người dân sinh sống. Địa hình nơi đây giống như đáy một chiếc cốc lớn, thành cốc là những ngọn núi đá chót vót vây quanh, biệt lập thôn Liên Minh với bên ngoài. Người dân Liên Minh sống bằng nghề nuôi gà, nuôi ong và trồng hoa màu.

Gà Liên Minh là một “thương hiệu” đáng tự hào của xã Trân Châu và huyện đảo. Thôn Liên Minh xã Trân Châu huyện Cát Hải thành phố Hải Phòng (https://www.com/maps/place/Th%C3%B4n+Li%C3%AAn+Minh+- +x%C3%A3+Tr%C3%A2n+Ch%C3%A2u/ 25/4/2022) Gà Liên Minh không những nổi tiếng về chất lượng thịt tuyệt hảo mà còn nổi tiếng về hình thức đẹp, bắt mắt (Hình 2. Thịt thơm và mềm nhưng không bở, ngọt, da giòn, vàng tươi rất bắt mắt. Những ưu điểm vượt trội của gà Liên Minh đã hấp dẫn 3 nhiều người chăn nuôi ở các địa phương khác.Với giá trị quý báu về nguồn gen bản địa, gà Liên Minh đang được quan tâm bảo tồn.

Điều rất đáng quý là cho đến nay, giống gà trong thôn vẫn không hề bị lai tạp và thoái hóa. Có được điều hiếm có này là do người dân trong thôn ý thức được việc bảo vệ giống gà quý (Hân Minh, 2014).2 Gà trống (A), gà mái (B) Liên Minh trƣởng thành (24 tuần tuổi) Hình 2.3 Đàn gà Liên Minh trƣởng thành (24 tuần tuổi) 4 2. Mối liên quan giữa đa hình gen và khả năng sinh sản 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng trứng ở gà Sản lượng trứng ở gia cầm có ý nghĩa rất lớn về kinh tế và khả năng phát triển đàn.

Khả năng sản xuất trứng ở gà là tính trạng di truyền số lượng, đa gen và chịu tác động bởi yếu tố môi trường. Có sự khác biệt rất lớn về năng suất trứng theo giống và vùng sinh thái của các nhóm gà bản địa trong nước, sự khác biệt này do sự tác động của nhiều yếu tố như: Yếu tố di truyền cá thể (tuổi thành thục về tính, thói quen ấp trứng, sự thay lông,…), tuổi gia cầm, dòng giống gia cầm và các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, dinh dưỡng). Ảnh hưởng của điều kiện nuôi dưỡng, chọn lọc và chọn đôi giao phối đã làm thay đổi về chất lượng và số lượng sản phẩm (thịt, trứng), ngoại hình, thể chất và sức chống chịu với ngoại cảnh của các giống gia cầm so với tổ tiên hoang dại. Khả năng sinh sản ở gia cầm Trứng gia cầm là một đại tế bào sinh sản bao gồm long đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ.

Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, còn các thành phần khác như lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo nên. Trong quá trình phát triển phôi, ở gà mái xuất hiện cả hai buồng trứng, nhưng sau khi nở, buồng trứng bên phải tiêu biến, chỉ còn lại buồng trứng bên trái (Vương Đống, 1968). Quá trình hình thành trứng và sự rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp, chịu sự điều khiển của hệ thần kinh và hormone. Số lượng tế bào trứng ở thời kỳ đẻ trứng có thể đếm được khoảng 3600 (Jull, 1939-1948), hoặc từ 900 đến 3500 lúc bắt đầu đẻ (Frege, 1978).

Thời gian từ lúc gà đẻ trứng đến lần rụng trứng tiếp theo kéo dài khoảng 15 -75 phút, sự rụng trứng ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là sau 30 phút tính từ lúc gà đẻ trứng (Melekhin và Niagridin,1989 dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994). Khả năng sinh sản của gia cầm được đánh giá bằng các chỉ tiêu: Năng suất trứng, khối lượng trứng, chỉ số hình dạng trứng, chất lượng trứng, tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở. Đối với các giống gia cầm khác nhau thì khả năng sinh sản cũng rất khác nhau, vì vậy từ những năm đầu của thế kỷ hai mươi các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu cơ sở di truyền về năm chỉ tiêu liên quan đến khả năng sản xuất trứng (Hays, 1944; Albuda,1955). 5 a) Tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục phụ thuộc vào bản chất di truyền từng cá thể, chế độ nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường.

Thời gian chiếu sáng thúc đẩy gia cầm thành thục sinh dục, vì vậy thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm (Khavecman, 1972). Hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể gà chưa trưởng thành với sản lượng trứng có giá trị âm (từ -0,21 đến -0,16), còn hệ số tương quan di truyền giữa tuổi thành thục với sản lượng trứng là 0,11 (Dickerson (1952); Ayob và Merat (1975), dẫn theo Trần Long (1994)). b) Sản lượng trứng Sản lượng trứng là số lượng trứng do một gà mái sản xuất trong một đơn vị thời gian, là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với gà hướng trứng. Sản lượng trứng là tính trạng số lượng phụ thuộc nhiều vào giống, đặc điểm của cá thể, điều kiện ngoại cảnh và hướng sản xuất.

Sản lượng trứng có mối tương quan nghịch với sinh trưởng sớm, do đó trong chăn nuôi gà sinh sản cần cho gà ăn hạn chế trong các giai đoạn tiền hậu bị, hậu bị và gà đẻ. Cường độ đẻ trứng phụ thuộc vào độ dài của chu kỳ đẻ trứng (Pingel và Jeroch, 1980). Cường độ đẻ trứng có tương quan dương chặt chẽ với sản lượng trứng (Mehner Alfreg, 1962), hệ số di truyền của cường độ đẻ trứng ở gà đạt 0,66, cường độ đẻ trứng 3 tháng đẻ đầu có tương quan di truyền chặt chẽ với sản lượng trứng cả năm (0,7 - 0,9). c) Khối lượng trứng Khối lượng trứng là tính trạng số lượng do nhiều gen quy định, có hệ số di truyền cao, vì vậy có thể đạt được mục đích nhanh chóng thông qua con đường chọn lọc (Kushner, 1974).

Hệ số di truyền của khối lượng trứng là 0,48 - 0,8 (Brandsch và Buelchel, 1978), tính trạng này có tương quan âm với sản lượng trứng (từ -0,33 đến - 0,36) (Pingel, 1986; Lê Hồng Mận và cs, 1996), nhưng giữa khối lượng trứng và khối lượng cơ thể có tương quan dương (r = 0,31) (Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao, 1985). Ngoài các yếu tố về di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại cảnh như: chăm sóc, dinh dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm. d) Chất lượng trứng Trứng gia cầm được đánh giá bởi chỉ tiêu chính là: vỏ trứng, lòng đỏ, lòng trắng và chỉ số hình dạng trứng. Khối lượng vỏ chiếm 10 - 11,6%; lòng trắng 57 - 60%; 6 lòng đỏ 30 - 32%, (Vương Đống, 1968).

Trứng gia cầm thường có hình bầu dục lệch, một đầu tù và một đầu nhọn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá mối liên hệ giữa đa hình gen PRLC2161 và khả năng đẻ trứng ở gà - Nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa gen PRLC2161 và khả năng sinh sản của gà. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về di truyền học trong chăn nuôi mà còn mở ra hướng đi mới cho việc cải thiện năng suất đẻ trứng thông qua các phương pháp chọn lọc gen. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến năng suất, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn chăn nuôi.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến quản lý tài nguyên nước, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ quy hoạch và quản lý tài nguyên nước nghiên cứu ứng dụng phương pháp kế toán nước trong đánh giá hiệu quả tổng hợp của hệ thống thủy lợi sông cầu. Ngoài ra, để mở rộng kiến thức về kỹ thuật và ứng dụng trong nông nghiệp, bạn có thể xem xét Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học research and simulation fluid dynamic in solar greenhouse dryer. Cuối cùng, nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về tác động của các loại thảo dược đến sinh vật, tài liệu Testing the effect of kaempferia galanga l on the larv ae of pieris rapae l khóa luận tốt nghiệp sẽ là một lựa chọn thú vị. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực nghiên cứu nông nghiệp và sinh học.