Chương 1 ĐẶT VAN DE 1.1 Cơ sở của đề tài Bắp (Zea mays L.) là một cây ngũ cốc quan trọng cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người và thức ăn cho chăn nuôi trên toàn thế giới sau lúa mì và lúa nước. Việc tăng sản lương bắp đặc biệt ở Mỹ va vai nước ở Châu Âu dẫn đến việc phát triển công nghiệp chế biến và việc tăng sản lượng ở các nước này có quan hệ mật thiết với việc phát triển và sử dụng giống bắp lai năng suất cao. Theo số liệu của FAO, năm 2005 sản lượng bắp của thế giới là 692,03 triệu tấn trong khi lúa mì là 626,5 triệu tan, lúa nước là 614,65 triệu tan. Ở Việt Nam, bắp được coi là cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau cây lúa, ở một số vùng còn được dùng làm cây lương thực chính cho con người.
Trong những năm gần đây, việc gia tăng diện tích và sản lượng bắp có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề an ninh lương thực và có dư để xuất khâu. Việt Nam có tốc độ tăng trưởng về sản xuất bắp khá nhanh; năm 1990 có diện tích 432 ngàn ha, năng suất đạt 1,55 tan/ha; năm 2000 diện tích bắp là 730 ngàn ha, năng suất đạt 2,90 tan/ha (Trần Hồng Uy, 2001); đến năm 2006 diện tích bắp là 1.032 ngàn ha, năng suất đạt 3,70 tan/ha (FAO, 2007). Theo quan điểm của các nhà khoa học hiện nay, việc tăng năng suất cây trồng chủ yêu dựa vào giống và phân bón. Giống được coi là động lực chính dé tăng năng suất và sản lượng hiện nay.
Bap lai là cây điển hình nhất về sự thành công trong ứng dụng ưu thế con lai F1 trong nông nghiệp. Tại nước Mỹ, năng suất bắp lai vượt trên các giống bắp truyền thống từ 1,0 đến 6 tan/ha/vu, trung bình là 2,0 tan/ha. Người ta đã tính được rằng giống lai đóng góp 60% và kỹ thuật canh tác đóng góp 40% vào mức tăng năng suất bắp (Đỗ Năng Vịnh, 2001). Sỡ dĩ năng suất bắp ở nước ta tăng nhanh như vậy là do sử dụng giống bắp lai vào sản xuất, năm 1990 diện tích bắp lai 0%, đến năm 1995 diện tích sử dụng giống bắp lai đã chiếm khoảng 30%, đến năm 2000 chiếm khoảng 65%, và ước đoán năm 2005 chiếm khoảng 90% (Trần Hồng Uy, 2001).
Tuy sản lượng bắp tăng nhanh như vậy nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu thức ăn cho chăn nuôi trong nước. Hang năm các công ty chế biến thức ăn gia súc phải nhập khâu hang trăm ngàn tan bắp. Từ năm 1991 đến nay, nghề trồng bắp ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đó là việc sử dụng giống bắp lai năng suất cao thay thé cho giống bắp thụ phan tu do nang suat thap.
Đặc biệt ở một số tỉnh như Đồng Nai, Bà Rịa — Vũng Tàu, Lâm Đồng (Đông Nam Bộ), An Giang, Hà Tây, Sơn La đã sử dụng giống bắp lai gieo trồng trên 90% diện tích trồng bắp của họ. Việc sử dụng giống lai thay thế giống thụ phấn tự do có thể coi là một bước tiến trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa — hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Đồng thời việc chuyên đổi cơ cấu cây trồng là xu thế tất yếu của các địa phương đặc biệt ở miền Đông Nam Bộ. Cây bắp lai được xem là một cây trồng trong cơ cau đó nhằm góp phan tăng thu nhập cho người nông dân.
Ngoài ra, một số tỉnh ở đồng bang sông Cửu Long, bắp lai cũng có trong cơ cau cây trồng trong vụ Đông Xuân và Hè Thu. Vì vậy, việc sử dụng và đa dạng giống bắp lai là một nhu cầu cần thiết của sản xuất làm tăng nhanh sản lượng, góp phần chuyên đổi cơ cấu cây trồng. Trong giai đoạn hiện nay, ở nước ta hằng năm có hàng chục giống bắp lai triển vọng được đưa ra giới thiệu cho sản xuất từ những đơn vị nghiên cứu, sản xuất và cung ứng giống bắp trong nước và các công ty liên doanh nước ngoài. Tuy nhiên, mỗi giống bap lai chỉ thích nghi trong điều kiện môi trường sinh thái và thời vụ nhất định.
Mặt khác, một số giống bắp lai sau khi được công nhận giống đưa ra sản xuất đã biến mat không còn sản xuất trong vùng. Điều này làm cho bà con nông dân bỡ ngỡ không biết chọn giống bắp lai nào thích hợp dé trồng nhằm đạt năng suất cao. Đông Nam Bộ là một trong những vùng bắp hàng hóa quan trọng nhất ở Việt Nam có diện tích trồng 131.600 ha đạt sản lượng 564.700 tấn trong đó riêng Đồng Nai chiếm 59.800 ha và Bà Rịa — Vũng Tàu chiếm 18. Đây là vùng có tỷ lệ sử dụng giống bắp lai cao chiếm 90,8% ở năm 2003 (TTKKNGCTTW, 2006), năng suất trung bình của vùng là 4,29 tan/ha (NGTK, 2006).
Tuy nhiên khoảng 70% diện tích bắp trong vùng canh tác nhờ nước trời ở cả hai vụ Hè Thu và Thu Đông (từ tháng 5 đến tháng 11 dương lịch) nên dễ gặp hạn ở cuối vụ sau. Dé mở rộng diện tích bắp vụ Thu Đông cho vùng này cần dùng giống chín trung bình sớm là đòi hỏi cấp bách của nông dân hiện nay. Hiện tại có một số giống bắp lai của các công ty nước ngoài như G — 49, C 919, NK — 54, B.9698 thuộc nhóm chín trung bình — sớm đang chiếm một diện tích lớn trong vùng nhưng giá các giống này khá cao (trên 30. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã đưa ra sản xuất các giống chín trung bình sớm V 98 — 1, V — 2002 với giá giống rẻ hơn bên cạnh các giống dai ngày CP — 888 và LVN 10 có năng suất cao, thích nghi rộng đang được trồng khắp cả nước, dễ gặp hạn ở cuối vụ Thu Đông.
Do đó, việc xác định giống lai thích ứng cho từng vùng đặc biệt là các giống chín trung bình sớm, năng suất cao, giá rẻ sẽ tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho nông dân trong vùng dễ dàng thâm canh, tăng vụ dé nâng cao thu nhập. Nhằm góp phần xác định những giống bắp lai có năng suất cao phù hợp với vùng trồng bắp miền Đông Nam Bộ, chúng tôi tiễn hành đề tài: “Đánh giá khả năng thích ứng của một số giống bắp lai phô biến trong sản xuất ở tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa -Vũng Tàu”.2 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích Xác định các giống bắp lai đạt năng suất cao, thích hợp trồng trong vụ Hè Thu và Thu Đông ở vùng chuyên canh bắp tỉnh Đồng Nai và Ba Rịa — Vũng Tau nhằm tăng thu nhập cho người nông dân.2 Yêu cầu - Đánh giá được hiện trạng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất bắp lai. - Phân tích được tính ôn định và thích nghi về năng suất của các giống bắp lai. - Xác định được giống bắp lai phù hợp trồng trong vụ Hè Thu và Thu Đông ở tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa — Vũng Tàu.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu là một số giống bắp lai phổ biến trong sản xuất ở tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa — Vũng Tàu.
- Bộ giống nghiên cứu gồm bảy giống bắp lai đã được Hội đồng Khoa học của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là giống chính thức. Bảy giống bắp được trồng ở Đồng Nai và Bà Rịa — Vũng Tàu ở vụ Hè Thu và Thu Đông. - Đối tượng khảo sát là các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu, các yếu tô cấu thành năng suất và năng suất, tính ôn định năng suất các giống bắp. - Phạm vi nghiên cứu là vùng trồng bắp chuyên canh: Trảng Bom, Xuân Lộc va Cam Mỹ (tinh Đồng Nai); Châu Đức, Dat Đỏ và Tân Thành (tinh Ba Rịa — Vũng Tàu).
Thời gian nghiên cứu ở hai vụ Hè Thu và Thu Đông năm 2006. Trong nội dung phân tích tương tác GxE chúng tôi chỉ chú trọng phân tích phương sai, phân tích phương trình tuyến tính và phân tích hàm đa biến (theo phương pháp xếp nhóm). Chương 2 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu bắp 2.1 Trên thế giới Trong những năm gần đây, được sự hỗ trợ của CIMMYT (Trung Tâm Cải Thiện Giống Bap va Lúa Mì Quốc Tế), chương trình phát triển của vùng và chương trình phát triển bắp của mỗi quốc gia cùng với việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong sản xuất mà cây bắp không ngừng phát triển về diện tích, năng suất và sản lượng. Theo thong kê của FAO, từ năm 1993 đến năm 2004, diện tích bắp thé giới đã tăng từ 131,57 triệu ha lên đến 145,14 triệu ha, năng suất bình quân tăng từ 3,62 tan/ha lên 4,9 tan/ha; san ượng từ 476,7 triệu tấn lên 705,3 triệu tan.
Diện tích bắp của châu Á đã tăng từ 38,80 triệu ha lên 44,9 triệu ha; năng suất bình quân tăng từ 3,62 tan/ha lên 4,1 tan/ha; sản lượng từ 140,42 triệu tan lên 182,75 triệu tan chiếm 26,4% tông sản lượng bắp toàn cầu. Nước sản xuất bắp đứng đầu thế giới là Mỹ năm 2005 có sản lượng 280,3 triệu tan chiếm 40,5% tổng sản lượng bắp của thé giới (với diện tích 28,8 triệu ha sử dụng 100% giống lai và năng suất bình quân 8,9 tan/ha). Kế đến là Trung Quốc, Braxin, Mêhicô. Một số nước trong khu vực Đông Nam A có sản lượng bắp cao như InđônêxIa, Philippine, Thái Lan và Việt Nam (Bang 2.
Năng suất bắp trung bình của thé giới năm 2005 là 4,71 tan/ha, những nước có năng suất bắp cao nhất là Mỹ (9,32 tắn/ha) và Canada (7,74 tân/ha) trên điện tích lớn. Ở Châu Á, Trung Quốc có năng suất khá cao là 5,00 tan/ha, còn lại hầu hết các nước khác năng suất còn thấp như Thái Lan 3,63 tan/ha, Inđônêxia 3,43 tan/ha, Philippine 2,08 tắn/ha và Việt Nam 3,52 tan/ha (Bảng 2.1 Sản lượng bap một sô nước sản xuât chính trên thê giới và một sô nước Đông Nam Á (Đơn vị: 1. Nước 2002 2003 2004 2005 Toàn thê giới 602.034 Một số nước sản xuất chính Mỹ 228.436 Một số nước Đông Nam A In-đô-nê-xi-a 9.014 Phi-lip -pin 4.500 (Nguồn: FAO, 2005) Vào nửa cuối thé kỷ 20, trong nền sản xuất lương thực của thế giới có một sự kiện rất quan trọng đó là sự phát triển nhảy vọt của cây bắp, một trong ba cây ngũ cốc chính của loài người: lúa mì, lúa nước và bắp. Vào những năm 1938, năng suất bình quân của bắp trên toàn thế giới mới đạt khoảng 0,96 tắn/ha, đứng sau lúa nước và lúa mì.
Khi đó năng suất bình quân của lúa nước là 1,6 tan/ha (Trần Hồng Uy, 1999).