Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về sự đổi mới sáng tạo của giáo dục đại học trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. Cơ sở lý luận về đánh giá mức độ thích ứng với đổi mới sáng tạo của các trường đại học trong bối cảnh Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. Xây dựng bộ tiêu chuẩn rút gọn dựa trên bộ tiêu chuẩn UPM nhằm đánh giá mức độ thích ứng với đổi mới sáng tạo của các trường đại học tại Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư.
Kết quả đánh giá mức độ thích ứng với déi mới sáng tạo của các trường dai học tại Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VE DOI MỚI SÁNG TẠO CUA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG BÓI CÁNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LÀN THỨ TƯ 1. Tổng quan các đặc trưng và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Sự khởi đầu của CMCN lần thứ tư đang được thế giới hết sức quan tâm. Cuộc CMCN lần thứ tư được nghiên cứu và thảo luận rộng rãi — nhiều đối tượng tác giả, diễn giả; nhiều diễn đàn (tạp chí, bản tin, báo mạng, hội thao.), nhiều cách tiếp cận (người làm chính sách, nhà khoa học, doanh nghiệp.) — mọi người, mọi lúc và mọi nơi.
Các tiếp cận đa số theo hướng đơn chiều, đôi khi có yếu tô kinh nghiệm. Các nghiên cứu có cơ sở khoa học, hệ thông và khái quát thường gắn với tiếp cận về sự xuất hiện của “một thời đại kinh tế moi” với lực lượng sản xuất mới, phương thức sản xuất. Tuy nhiên, các thảo luận, trao đồi theo hướng tiếp cận này chưa được nhiều, làm hạn chế đến khả năng dẫn dắt sự nhập cuộc và phát triển trong thời kỳ mới. Phần tong quan này quan tâm đến cách tiếp cận như vậy dé kết nối với các định hướng liên quan với phát triển giáo dục đại học.
Trong chương này, bên cạnh phương pháp tổng quan phổ thông, các thông tin được tông quan theo các chủ đề liên quan đến bản chat và yêu cầu đổi mới giáo dục. Lợi thé cạnh tranh của nền kinh tế được thiết lập từ các hoạt động đổi mới sáng tạo, đòi hỏi tư duy và văn hóa đổi mới sáng tạo Trong thời kỳ CMCN lần thứ tư, nền kinh tế tri thức tiếp tục phát triển với các yếu tố cạnh tranh ngày càng cao. Nền sản xuất từ mô hình qui mô lớn với giá trị nhỏ sang mô hình quy mô nhỏ giá trị cao; phát triển công nghiệp chuyền thành phát triển công nghệ và kinh doanh hàng hóa phát triển thành kinh doanh ý tưởng đổi mới sáng tạo, trong đó kinh doanh các ý tưởng đổi mới sáng tạo sẽ phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp mới, góp phần gia tăng giá trị xã hội (Đức, N. 19 Đó là nền kinh tế phát triển dựa vào đổi mới sáng tạo (innovation-driven economy) (WEF, 2016).
Ở đó, có sự dịch chuyền lớn từ nguồn nhân lực kỹ năng thấp sang nguồn nhân lực có tri thức và kỹ năng cao; từ việc nhận chuyên nhượng/chuyền quyên sử dụng công nghệ sang sáng tao công nghệ; từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp thông minh; doanh nghiệp nhỏ và vừa truyền thống thành doanh nghiệp khởi nghiệp thông minh; dịch vụ thông minh, giá trị cao. Các tổ chức (kể cả các trường đại học) đều tăng cường lợi thế cạnh tranh của mình dựa trên tính mới và/hoặc tính độc đáo của các sản phâm (hàng hóa, dịch vụ) được tạo ra nhờ các công nghệ mới nhất và/hoặc các quy trình sản xuất, các mô hình kinh doanh tinh vi nhất. Tính mới, tính độc đáo hoặc khác biệt đó là kết quả của việc phát huy tri thức tổ chức (Đức, N. Tại các nước chưa có nền kinh tế dựa trên ĐMST, nền kinh tế của họ dựa trên hiệu quả với lợi thế cạnh tranh là các sản phẩm tiêu chuẩn và thậm chí các quốc gia có nền kinh tế dựa vào nguồn lực, trong đó có lợi thế cạnh tranh dựa trên lao động phô thông hoặc tài nguyên thiên nhiên.
Các tổ chức cần kết hợp việc phát huy lợi thế nên tảng công nghiệp sáng tạo và văn hóa truyền thống của mình với việc tiếp cận sáng tạo các giải pháp khoa học dữ liệu dé tạo ra lợi thế cạnh tranh và nền tảng động lực phát triển. Muốn tôn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần duy trì và liên tục nâng cao năng lực DMST. Các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp va các tập đoàn sẽ phải liên tục đối mặt với áp lực của quy luật chọn lọc tự nhiên và triết lý “luôn luôn phát triển” sẽ ngày càng nắm vai trò chủ đạo. Số lượng các nhà khởi nghiệp cùng với các nhà quản lý có tầm nhìn sáng tạo trên thế giới sẽ tăng lên.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có được các lợi thế về tốc độ và nhạy bén cần thiết để xử lý các van đề đột phá và DMST. Tư duy và văn hóa DMST cần được thiết lập, trong đó giáo dục đại học có vai trò trách nhiệm rất lớn không chỉ trong việc định hướng mà còn trang bị các kiến thức và kỹ năng liên quan. DMST không nhất thiết phải dựa vào các công nghệ tiên phong, dan dau mà bao gôm cả các công nghệ mở, các DMST 20 về giải pháp và dịch vụ trong các lĩnh vực. Quá trình ĐMST còn được thúc đây bằng nguồn DMST mở.
Cơ hội khởi nghiệp cho mọi người, mọi lĩnh vực và mọi quốc gia, đòi hỏi được trang bị kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp Một đặc điểm khác của cuộc CMCN lần thứ tư là nền tảng công nghệ mới và hạ tầng công nghệ có tính phổ cập và toàn cầu hóa cao đã được tạo ra rất thuận lợi cho cơ hội khởi nghiệp với số vốn đầu tư ban đầu có thé không lớn, không cần tư liệu sản xuất và lực lượng lao động nhưng lợi nhuận thu về cao. Các chuyên gia cho rằng siêu kết nối thông qua sự phổ biến của Internet vạn vật (IoT) và điện toán đám mây sẽ cho phép việc truyền thông tin va giao tiếp phổ quát, toàn cầu và gần như tức thời. Nó là tiền đề ra đời những mô hình khởi nghiệp kinh doanh mới và mở ra những cách thức cung cấp hàng hóa, dịch vụ mà trước đây là điều không tưởng. Ví dụ, ứng dụng taxi Uber chỉ có thể xuất hiện khi việc sử dụng điện thoại di động có kết nối internet đã bùng nổ; Facebook là một phương tiện truyền thông trong đó chủ sở hữu không cần tô chức sẵn dữ liệu thông tin.
Việc phát triển ngày một rộng của IoT cho phép các doanh nghiệp này tiếp cận tốt hon với từng đơn vị, từ đó có thé theo dõi và đánh giá hiệu quả của họ trong thời gian thực., 2020) Trường hợp của WhatsApp, khởi đầu với nhóm nhỏ nhà đầu tư, vốn bỏ ra cũng nhỏ nhưng đến nay được định giá rất lớn. Năm 2014, WhatsApp khi đó chỉ có 55 nhân viên nhưng đã được Facebook đồng ý đầu tư 22 tỷ USD. Giá trị doanh nghiệp của WhatsApp lên đến 400 triệu USD cho mỗi nhân viên. Trong khi đó, hãng hàng không Hoa Kỳ United Continental có giá thị trường cũng chỉ là 22 tỷ USD, nhưng có tới 82.
Trí tuệ nhân tạo cũng đang góp phan thay đồi sâu sắc nhiều khía cạnh của cuộc sống, dan trở thành một yếu tố quan trọng trong hoạt động muôn màu muôn vẻ của nhân loại. Riêng về mặt kinh tế, một nghiên cứu của PwC cho thấy phần đóng góp của nó sẽ lên tới 15.700 tỷ USD vào năm 2030 (Thủy và nnk. Các dịch vụ khác như Pinterest, Snapchat Twitter va Instagram đã đóng một vai trò then chốt trong sự tương tác xã hội của các công dân trên toàn thế giới. Siêu 21 tự động hóa cũng có thé được kết hợp với siêu kết nối, cho phép hệ thống máy tính kiểm soát và quản lý các quá trình vật lý và phản ứng một cách “con người” hơn bao giờ hết.
Nhờ siêu tự động hóa, "hệ thống mạng vật lý" ra đời, cho phép robot và các cỗ máy thông minh tăng khả năng kết nối dé "vượt qua vực thăm" giữa công nghệ - kỹ thuật, thé giới tự nhiên và thế giới con người., 2020) Khởi nghiệp có thể triển khai đối với mọi người, mọi nơi, mọi lĩnh vực và mọi quốc gia. Nếu có ý tưởng, chúng ta có thể là người bắt chước, phát triển nhanh (fast followers) hoặc nếu có công nghệ lõi, chúng ta sẽ là người tiên phong (first movers) (Lee, 2017). Về bản chất, đấy là các ĐMST phi R&D. Trong thời đại ngày nay, nền tảng và hạ tầng công nghệ có tính phổ cập và toàn cầu hóa cao đã được tạo thuận lợi cho cơ hội khởi nghiệp nhỏ và siêu nhỏ với số vốn đầu tư ban đầu không lớn, không cần tư liệu sản xuất và lực lượng lao động nhưng lợi nhuận thu về cao, chỉ cần có kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp.
Lực lượng lao động 4.0 đòi hỏi các kỹ năng và năng lực mới Trong cuộc CMCN lần thứ tư, các mối quan hệ tương tác cơ bản của lực lượng sản xuất là tương tác giữa các thiết bị với nhau và giữa thiết bị với con người, tạo một hình thái sản xuất mới đòi hỏi những kĩ năng mới ở lực lượng lao động. Sự xuất hiện và bị thay thế nhanh chóng của các loại (hoặc thế hệ) công nghệ dẫn đến sự xuất hiện nhanh chóng của các loại nghề nghiệp phi truyền thống. Đây là đặc điểm quan trọng không những dé định hướng cho việc thay đổi chương trình đào tạo, hình thành các ngành nghề mới trong các trường đại học mà định hướng “học tập suốt đời” còn trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt đối với mọi kỹ năng làm việc trong thời kỳ CMCN lần thứ tư. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF, 2016) đưa ra một khung nhìn về ba nhóm năng lực và kỹ năng làm việc, trong đó, có năng lực cơ bản (năng lực nhận thức và năng lực thé chất), kỹ năng cơ bản (kỹ năng nội dung và kỹ năng xử lý) và kỹ năng liên chức năng (kỹ năng xã hội, kỹ năng quản lý nguồn nhân lực, kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng hệ thống và kỹ năng giải quyết các vẫn đề phức tạp).
Khả năng làm việc, hợp tác với người khác, với nhóm bây giờ được yêu cầu rõ hơn, cao hơn.