Đánh giá kết quả phục hồi rừng khu bảo tồn vượn Cao Vít, Trùng Khánh, Cao Bằng

Đánh giá chi tiết hiệu quả phục hồi rừng tại Khu bảo tồn Vượn Cao Vít Cao Bằng. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và nhận định về tiềm năng phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Lâm nghiệp

2020

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá phục hồi rừng Khu bảo tồn Vượn Cao Vít Cao Bằng

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít nằm tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Đây là nơi cư trú của loài vượn Cao Vít (Nomascus nasutus), loài linh trưởng cực kỳ nguy cấp trên toàn cầu. Quá trình đánh giá phục hồi rừng tại khu bảo tồn này được thực hiện nhằm theo dõi sự tái sinh tự nhiên và nhân tạo của thảm thực vật. Nghiên cứu tập trung vào thành phần loài, phân cấp đường kính, chiều cao cây tầng cao và chất lượng tái sinh. Kết quả cho thấy đa dạng sinh học tại các khu vực phục hồi có sự khác biệt rõ rệt. Rừng phục hồi phía Ngọc Khê, Ngọc Côn và xã Phong Nậm thể hiện các đặc điểm sinh thái riêng biệt. Việc bảo tồn sinh cảnh sống của vượn Cao Vít gắn liền với công tác phục hồi rừng. Các loài cây gỗ quý như Nghiến, Đinh, Sến được ưu tiên trong quá trình tái sinh. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quản lý và bảo tồn lâu dài.

1.1. Vị trí địa lý và tầm quan trọng của Khu bảo tồn Vượn Cao Vít

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, vùng Đông Bắc Việt Nam. Khu vực này có địa hình núi đá vôi hiểm trở, độ cao trung bình từ 300 đến 700 mét so với mực nước biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa phân bổ không đều qua các mùa. Đây là sinh cảnh sống duy nhất còn lại của loài vượn Cao Vít (Nomascus nasutus) trên thế giới. Loài vượn này từng được coi là đã tuyệt chủng cho đến khi được phát hiện lại vào năm 2002. Khu bảo tồn đóng vai trò then chốt trong chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia và quốc tế.

1.2. Mục tiêu và phương pháp đánh giá phục hồi rừng

Đánh giá phục hồi rừng tại Khu bảo tồn Vượn Cao Vít nhằm xác định hiệu quả của các biện pháp tái sinh tự nhiên và nhân tạo. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thiết lập các ô mẫu cố định tại các khu vực phục hồi khác nhau. Các chỉ tiêu đánh giá gồm thành phần loài thực vật, công thức tổ thành tầng cây, phân cấp đường kính và chiều cao cây. Chất lượng tái sinh được đánh giá qua mật độ cây con, tỷ lệ cây gỗ quý hiếm trong tầng tái sinh. Số liệu thu thập trong giai đoạn 2019-2020 tại ba khu vực: Ngọc Khê, Ngọc Côn và xã Phong Nậm. Phương pháp so sánh đối chứng được áp dụng giữa khu vực phục hồi và khu vực rừng nguyên sinh.

II. Phân tích kết quả phục hồi rừng Khu bảo tồn Vượn Cao Vít Cao Bằng

Kết quả phân tích thực vật tại Khu bảo tồn Vượn Cao Vít cho thấy sự đa dạng đáng kể về thành phần loài. Ghi nhận được hàng chục loài thực vật thuộc nhiều họ khác nhau, trong đó có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm. Các loài cây gỗ lớn như Nghiến (Excentrodendron hsienmu), Sến (Hopea sp.) chiếm tỷ lệ quan trọng trong tầng cây cao. Phân cấp đường kính cây tại phía Ngọc Khê và Ngọc Côn cho thấy tập trung chủ yếu ở nhóm đường kính nhỏ và trung bình. Điều này phản ánh đặc điểm rừng đang trong giai đoạn phục hồi. Phân cấp chiều cao cũng thể hiện xu hướng tương tự với đa số cây thuộc tầng trung bình. Tại khu vực xã Phong Nậm, mật độ cây tái sinh tự nhiên cao hơn so với hai khu vực còn lại. Công thức tổ thành tầng cây tái sinh cho thấy sự hiện diện của nhiều loài cây bản địa có giá trị. Chất lượng rừng phục hồi phụ thuộc vào mức độ tác động trước đó và khả năng cạnh tranh của các loài cây.

2.1. Thành phần loài thực vật và đa dạng sinh học tại khu vực phục hồi

2.2. Phân tích phân cấp đường kính và chiều cao cây tầng cao

III. Giải pháp đánh giá và phục hồi rừng Khu bảo tồn Vượn Cao Vít

Dựa trên kết quả phân tích, nhiều giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi rừng tại Khu bảo tồn Vượn Cao Vít. Giải pháp trước hết là tăng cường bảo vệ diện tích rừng hiện có, ngăn chặn các hoạt động khai thác trái phép. Việc trồng bổ sung các loài cây bản địa quý hiếm cần được thực hiện tại các vùng có mật độ tái sinh thấp. Các biện pháp kỹ thuật như mở tán rừng, phát dọn dây leo cây bụi giúp cải thiện điều kiện ánh sáng cho cây tái sinh. Quản lý chăn thả gia súc trong khu vực bảo tồn cần được kiểm soát chặt chẽ hơn. Nghiên cứu thêm về tập tính ăn uống của vượn Cao Vít để ưu tiên trồng các loài cây thức ăn. Xây dựng hệ thống giám sát dài hạn với các ô mẫu cố định để theo dõi diễn biến phục hồi rừng. Hợp tác quốc tế trong công tác bảo tồn cũng là yếu tố then chốt cho thành công lâu dài.

3.1. Biện pháp kỹ thuật hỗ trợ tái sinh tự nhiên và nhân tạo

3.2. Chiến lược bảo tồn sinh cảnh sống cho loài vượn Cao Vít

IV. Kết luận và ứng dụng đánh giá phục hồi rừng Khu bảo tồn Vượn Cao Vít

Nghiên cứu đánh giá phục hồi rừng Khu bảo tồn Vượn Cao Vít đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đa dạng sinh học tại các khu vực phục hồi thể hiện sự phong phú với nhiều loài bản địa quý hiếm. Quá trình tái sinh tự nhiên đang diễn ra tích cực tại hầu hết các khu vực nghiên cứu. Tuy nhiên, chất lượng rừng phục hồi vẫn chưa đạt mức rừng nguyên sinh trưởng thành. Các loài cây gỗ lớn cần thêm thời gian để phát triển đầy đủ về kích thước. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh chiến lược quản lý bảo tồn. Ứng dụng thực tiễn bao gồm quy hoạch bảo tồn, trồng rừng phục hồi và bảo vệ loài vượn Cao Vít. Các chỉ số đánh giá được xây dựng có thể áp dụng cho các khu bảo tồn tương tự trong vùng Đông Bắc. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của cộng đồng địa phương trong công tác bảo tồn lâu dài. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào đánh giá tác động biến đổi khí hậu đến quá trình phục hồi rừng.

4.1. Tổng hợp kết quả đánh giá và ý nghĩa khoa học của nghiên cứu

4.2. Ứng dụng thực tiễn và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/04/2026
Đánh giá kết quả phục hồi rừng khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn cao vít huyện trùng khánh tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở pháp lý Theo kết quả nghiên cứu Linh trưởng - Primatates ở Việt Nam thì Bộ Linh trưởng - Primates là một trong những nhóm động vật phân bố rộng nhất trong số các bộ thuộc lớp thú; chúng phân bố chủ yếu ở các vùng rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới, là nhóm được rất nhiều nhà khoa học quan tâm vì mức độ tiến hóa và tổ chức bầy đàn của nó. Theo hệ thống phân loại của Brandon-Jone và cộng sự (2004), khu hệ thú linh trưởng Việt Nam có 24 loài và phân loài thuộc 3 họ là: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae), họ Vượn (Hylobatidae). Trong số 24 loài và phân loài, có 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt Nam: gồm Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc Cát Bà (Trachypithecus policocephalus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix nemaeus cinerea), Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis), Vượn đen Cao Vít (Nomascus nasutus nasutus). Qua đó, các nghiên cứu liên quan về vấn đề quản lý, bảo vệ sinh thái cho loài Vượn cũng đã được chú trọng nhất là vấn đề phục hồi rừng tại các khu vực trước đây và hiện nay bị tác động mạnh.

Vì vậy tại khu vực có loài Vượn này đã được thành lập khu bảo tồn là Khu bảo tồn Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng, từ đó ngoài việc quản lý bảo vệ loài Vượn thì cũng nghiên cứu phục hồi và mở rộng sinh thái cho loài Vượn ở đây. Nhà nước ta đã có những văn bản quy phạm về các nghị định, quyết định để quản lý bảo vệ khu bảo tồn này. Đặc biệt là tổ chức quốc tế đưa ra dự án để bảo vệ loài Vượn Cao Vít. - Căn cứ Quyết định số: 22/2008/QĐ-BNN ngày 22/1/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Về việc quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Kiểm lâm; 4 - Căn cứ Nghị định số: 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức; - Căn cứ các Quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Quyết định số: 1067/QĐ/BNN-LN ngày 27/4/2004 về việc phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp; Quyết định số:480/QĐ/BNN-HTQT ngày 08/3/2005. Về việc phê duyệt Cẩm nang hoạt động Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng thuộc Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp; Quyết định số: 511/QĐ/BNN-TCCB ngày 10/3/2005. Về việc giao cho Cục Kiểm lâm thực hiện hợp phần Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng thuộc Dự án phát triển ngành lâm nghiệp; Quyết định số: 26/QĐ-BNN-TC ngày 06/1/2006. Về việc ban hành hướng dẫn định mức chi tiêu sử dụng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng thuộc Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp; Quyết định số: 3676/QĐ-BNN-TCCB ngày 11/12/2006.

Về việc ban hành Quy chế quản lý và thực hiện Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp; Quyết định số: 675/QĐ-BNN-XD ngày 03/3/2008. Về việc ủy quyền cho chủ đầu tư trong quá trình thực hiện các dự án sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý; Quyết định số: 3269/QĐ-BNN- TCCB ngày 24/10/2008. Về việc sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý và tổ chức thực hiện Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp; Trong thời gian 2001-2002, Tổ chức FFI - Chương trình Việt Nam đã nỗ lực điều tra, tìm kiếm về loài Vượn đen trong hầu hết các khu vực phân bố của loài trong vùng Đông Bắc Việt Nam. Tổ chức FFI - Chương trình Việt Nam phối hợp với Cục Kiểm lâm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng và Hạt Kiểm lâm huyện Trùng Khánh đã tiến hành nhiều hoạt động bảo tồn loài trong khu vực rừng thuộc 3 xã Phong Nậm - Ngọc Côn - Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Là một trong những khu vực với diện tích hoàn toàn là núi đá vôi, khu bảo tồn Vượn Cao Vít thuộc ba xã Phong Nậm, Ngọc Côn và Ngọc Khê, 5 huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng cũng chứa trong mình một nguồn tài nguyên đa dạng sinh học vô cùng quý giá. Đây là khu vực duy nhất trên lãnh thổ Việt Nam cũng như trên toàn thế giới hiện còn tồn tại loài vượn Đen (tiếng Tày là “Cao Vít”). Tổ chức FFI - Chương trình Việt Nam đã tiến hành điều tra thực địa nhằm tiếp tục các cuộc điều tra, đánh giá số lượng quần thể của loài Vượn đen ở Khu Bảo tồn về loài và sinh cảnh. Qua đó điều tra đánh giá hiện trạng rừng tại khu bảo tồn và đưa ra các biện pháp nhằm phục hồi sinh cảnh cho loài Vượn này nói riêng và cho khu bảo tồn nói chung.

Vì vậy cần có sự ủng hộ và giúp đỡ của Nhà nước, các nhà tổ chức quản lý để bảo vệ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học này sao cho đạt hiệu quả thiết thực nhất.2 Cơ sở khoa học 1.1 Trên thế giới * Tình hình QLBVR trên thế giới Diện tích rừng trên thế giới ngày càng suy giảm qua các thời kỳ. Theo tài liệu của Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWE, 1998), trong thời gian 30 năm (1960 - 1990) độ che phủ rừng trên toàn thế giới đã giảm đi gần 13%, tức diện tích rừng đã giảm đi từ 37 triệu km2 xuống còn 32 triệu km2, với tốc độ giảm trung bình 160. Thực tế cho thấy rằng, sự mất rừng lớn nhất xảy ra ở các vùng nhiệt đới, ở Amazone (Braxin) trung bình mỗi năm rừng bị thu hẹp 19.000 km2 trong suốt hơn 20 năm qua. Bốn loại rừng bị hủy diệt khá lớn là rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rộng 60%, rừng lá kim khoảng 30%, rừng ẩm nhiệt đới khoảng 45% và rừng khổ nhiệt đới lên đến khoảng 70% và Châu Á là nơi mất rừng nguyên sinh lớn nhất, khoảng 70% (Thảo,2012).

Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, bảo vệ và phát triển vốn rừng, bảo tồn ĐDSH trên phạm vi toàn thế giới, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, để xuất và cam kết nhiều công uớc về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong đó có: 6 + Công uớc quốc tế về buôn bán các loài động thực vật quý hiếm (CITES) có hiệu lực từ năm 1975 là một thỏa thuận mối trường đa phương với 180 nước thành viên. Mục đích của Công ước này là để đảm bảo rằng việc buôn bán quốc tế các loài động vật và thực vật hoang dã không đe dọa sự sống còn của chúng. + Năm 1980: Chiến lược bảo tồn thế giới: Tiếp theo Hội nghị Stockholm, các tổ chức bảo tồn như Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (WWF) đã đưa ra "Chiến lược bảo tồn thế giới". Chiến lược này thúc giục các nước soạn thảo các chiến lược bảo tồn quốc gia của mình Ba mục tiêu chính về bảo tồn tài nguyên sinh vật được nhấn mạnh trong Chiến lược như sau: Duy trì những hệ sinh thái cơ bản và những hệ hỗ trợ sự sống (như cải tạo đất, tái sinh các nguồn dinh dưỡng, bảo vệ an toàn nguồn nước); bảo tồn tính đa dạng di truyền; bảo đảm sử dụng một cách bền vững các loài và các hệ sinh thái.

Từ khi Chiến lược bảo tốn thế giới được công bố tới nay, đã có trên 60 chiến lược bảo tồn quốc gia được phê duyệt. Trong chiến lược này, thuật ngữ Phát triển bền vững lần đầu tiên được nhắc tới, tuy nhiên mới chỉ nhấn mạnh ở góc độ bền vừng sinh thái. Tiếp theo chiến lược này, một công trình khoa học có tiêu đề "Cứu lấy Trái đất - Chiến lược cho cuộc sống bền vững đã đuợc IUCN, UNEP và WWE soạn thảo và công bố (1991). Trong cuốn sách, nhiều khuyến nghị về cải cách luật pháp, thể chế và quản trị đã được đề xuất.

+ Năm 1992: Hội nghị về Môi truờng và Phát triển của Liên Hợp Quốc: Rio de Janeiro, Brazil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCED). Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21. Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế 7 giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã thông qua các văn bản quan trọng: Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển với 27 nguyên tắc chung, xác định những quyền lợi và trách nhiệm của các quốc gia nhằm làm cho thế giới PTBV; chương trình Nghị sự 21 về PTBV; tuyên bố các nguyên tắc quản lý, bảo vệ và PTBV rừng: công uớc khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu nhằm ổn định các khi gây hiệu ứng nhà kinh ở mức độ không gây đảo lộn nguy hiểm cho hệ thống khí hậu toàn cầu; công ước về Đa dạng sinh học. Theo phân tích các số liệu tử Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) cho thấy tỷ lệ phá rừng nhiệt đới đã tăng lên 8,5% từ 2000-2005 so với những năm 1990, song song với tỷ lệ rừng nguyên sinh bị tàn phá tăng đến 25% so với cùng kỳ.

Tốc độ mất rừng nguyên sinh của Nigieria và Việt Nam đã tăng gấp đôi kể từ những năm 1990, trong khi tỷ lệ của Peru đã tăng gấp ba lần. Nhìn chung, trong giai đoạn 2000-2005, FAO uớc tính rằng có khoảng 10,4 triệu ha rừng nhiệt đới bị huỷ vĩnh viễn mỗi năm. Đối với rừng nguyên sinh, tốc độc phả rừng hảng năm tăng lên 6,26 triệu ha so với 5,41 triệu ha trong cùng thời kỳ. Trên một quy mô rộng lớn hơn, các dữ liệu của FAO cho thấy rằng những khu rừng nguyên sinh đang được thay thế bằng các đồn điền và rừng trồng với đa dạng sinh học thấp và độ che phủ không đồng đều, thường thì độ che phủ rừng được mở rộng hơn ở Bắc Mỹ, Châu Âu, và Trung Quốc, còn ở vùng nhiệt đới thì độ che phủ giảm đi rất nhiều.

Từ năm 2000 đến 2012, toàn thế giới đã mất đi 2,3 triệu km2 rừng; diện tích đó lớn hơn cả diện tích nước Mông Cổ. Cũng trong thời gian đó đã hình thành 800.000 km2 rừng mới trồng. Brazil là nước đã thành công trong việc bảo vệ rừng. Trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến 2004, nước này đã phá khoảng 40.000 km rừng thì tới 2010 và 2011, mức độ tàn phá rừng đã giảm một nửa.

Tại Indonesia tỷ lệ rừng bị tàn phá ngày càng tăng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ