Chương 1: Tổng quan về mạng WSN: sẽ giới thiệu một cách tổng quan về mạng WSN, nền tảng công nghệ của mạng WSN, các ứng dụng của mạng WSN và các yếu tố cần quan tâm khi thiết kế, xây dựng mạng WSN. Chương 2: Các giao thức định tuyến trong mạng WSN: Giới thiệu về định tuyến trong mạng WSN, đồng thời nêu ra các khó khăn và các vấn đề trong định tuyến mạng WSN, tìm hiểu các giao thức định tuyến thông qua đó lựa chọn một số giao thức định tuyến sẽ đi sâu nghiên cứu. Chương 3:Lý thuyết về đánh giá hiệu suất và các công cụ mô phỏng mạng WSN: Giới thiệu về vai trò của việc đánh giá hiệu suất mạng, các độ đo thường được sử dụng trong đánh giá hiệu suất mang. Đồng thời giới thiệu các công cụ mô phỏng mạng WSN và các công cụ hỗ trợ phân tích và hiển thị kết quả mô phỏng.
Chương 4: Kết quả thực nghiệm đánh giá hiệu suất các giao thức định tuyến trong mạng WSN: Xây dựng các kịch bản cụ thể để đánh giá hiệu suất các giao thức định tuyến đã được lựa chọn nghiên cứu. Phần kết luận tổng kết những công việc đã thực hiện và những kết quả đã đạt được đồng thời cũng đề cập đến công việc và hướng nghiên cứu trong tương lai. TỔNG QUAN VỀ MẠNG WSN 1. Giới thiệu Mạng WSN được các nhà nghiên cứu coi như một lĩnh vực “thú vị” trong việc liên kết mạng không dây giữa các nút mạng có kích thước nhỏ (thậm chí chỉ như hạt bụi với đường kính được tính bằng đơn vị nanô mét).
Cấu trúc của một nút mạng WSN bao gồm phần cảm biến, phần xử lý tính toán, phần truyền thông và bộ nguồn. Trong đó, từng thành phần này trong từng loại mạng WSN khác nhau sẽ có những đặc điểm riêng phụ thuộc vào loại ứng dụng đặc trưng của mạng WSN đó. Không chỉ thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học, theo các nhà quan sát công nghiệp nhìn nhận, thị trường cảm biến không dây (WS – Wireless Sensor) hiện nay có những tiềm năng thương mại rất lớn. Cùng với những tiến bộ trong lĩnh vực thiết kế cảm biến và vật liệu đang diễn ra thì gần như có thể chắc chắn sẽ giảm được kích thước, trọng lượng và chi phí của các nút cảm biến, đồng thời những tiến bộ này cũng làm gia tăng về độ tin cậy và cải thiện độ đo chính xác hơn.
Sự phát triển của mạng WSN trong tương lai sẽ kéo theo sự ra đời và phát triển của vô số các ứng dụng đa dạng khác. Nền tảng công nghệ của mạng WSN [3, tr.2-4] Mạng cảm biến là một lĩnh vực liên ngành, nó liên quan tới nhiều khía cạnh như: sóng vô tuyến và kết nối mạng, xử lý tín hiệu, trí tuệ nhân tạo, quản lý cơ sở dữ liệu, tối ưu hóa nguồn tài nguyên, các thuật toán quản lý năng lượng, nền tảng công nghệ phần cứng, phần mềm hay các hệ điều hành. Các ứng dụng, các nguyên tắc kết nối mạng, và các giao thức cho các hệ thống này chỉ mới bắt đầu được phát triển. Các cảm biến được kết nối với nhau thông qua một chuỗi các liên kết không dây (multi-hop) năng lượng thấp trong khoảng cách ngắn.
Chúng thường sử dụng Internet hay một số mạng khác để chuyển tiếp dữ liệu trên các tuyến đường dài tới điểm tập hợp và phân tích dữ liệu cuối cùng. Nhìn chung, trong lĩnh vực cảm biến, mạng WSN sử dụng các kỹ thuật truyền và kỹ thuật chia sẻ kênh truy cập ngẫu nhiên hướng kết nối đã được mô tả trong họ chuẩn IEEE 802. Trên thực tế, những kỹ thuật này đã bắt đầu được phát triển vào cuối những năm 1960, 1970 cho môi trường không dây với tập lớn những nút mạng phân tán bị hạn chế về khả năng quản lý kênh. Bên cạnh đó, nhiều kỹ thuật quản lý kênh khác cũng đã ra đời và được sử dụng.
Hiện tại, việc triển khai mạng WSN vẫn đang phải đối mặt với một loạt các thách thức lớn. Tuy nhiên, công việc này đang dần được chuẩn hóa và nó sẽ trở nên đơn giản hơn khi các thách thức trên chỉ phải giải quyết một lần và sau đó kết quả của nó sẽ được thiết lập cố định trên các thành phần tương ứng. Một trong những thách thức lớn đó là xây dựng phương thức truyền thông năng lượng thấp với khả năng xử lý ngay trên nút để giảm thiểu chi phí và khả năng tự thiết lập kết nối, tự cấu hình giao thức phù hợp. Một thách thức quan trọng khác đó là làm sao có thể kéo dài được thời gian z 13 hoạt động của các nút cảm biến trong khi năng lượng của nó bị hạn chế hay bị phụ thuộc vào tuổi thọ của pin.
Các mạng không dây nói chung thường được thiết kế cho phạm vi liên kết từ hàng chục, hàng trăm tới hàng nghìn dặm. Tuy nhiên, giới hạn về năng lượng cùng với mong muốn giảm giá thành của nút mạng lại làm phát sinh thêm vấn đề trong mạng WSN. Việc xử lý các tín hiệu hợp tác giữa các nút mạng kề nhau có thể làm tăng tính nhạy cảm và đặc hiệu khi dò tìm các sự kiện bất thường trong môi trường. Hiện nay, các chipset CMOS đang mang lại sự tối ưu hóa cho mạng WSN và nó được coi là chìa khóa thành công trong lĩnh vực thương mại.
Những năm đầu tiên, các nhà cung cấp linh kiện đã sử dụng các công nghệ độc quyền để tập hợp dữ liệu thu được từ các thiết bị. Nhưng từ đầu năm 2000 đến nay, các nhà cung cấp thiết bị cảm biến đang tìm cách chuẩn hóa công nghệ này. Các nhà thiết kế đã loại trừ việc áp dụng các chuẩn của Wi-Fi (IEEE 802.11b) và Bluetooth (IEEE 802.1) cho các cảm biến bởi nó quá phức tạp và đòi hỏi nhiều băng thông hơn thực tế cần thiết cho các bộ cảm biến thông thường. Điều này đã mở ra cánh cửa cho một chuẩn mới đó là ZigBee (IEEE 802.
ZigBee bao gồm các lớp phần mềm mới và hỗ trợ một loạt các ứng dụng. ZigBee hoạt động ở dải tần 2,4GHz và hỗ trợ truyền dữ liệu với tốc độ lên tới 250kbps ở phạm vi 30 đến 200 ft (khoảng 9,144 mét đến 60. ZigBee được thiết kế để bổ sung cho các công nghệ không dây đang tồn tại như Bluetooth, Wi-Fi và UWB với mục đích là áp dụng cho các ứng dụng cảm biến điểm-điểm mà ở đó không thể kết nối cáp, năng lượng cực thấp và chi phí bị hạn chế. Các nghiên cứu đã chỉ ra nhiều điểm tương đồng giữa mạng WSN và mạng MANET.
Ví dụ như kiến trúc mạng là không cố định, năng lượng là một vấn đề đáng quan tâm, các nút trong mạng được kết nối với nút khác bằng môi trường liên kết không dây hay cả hai đều liên quan đến truyền thông multi-hop. Tuy nhiên các giao thức và kỹ thuật được phát triển cho mạng MANET không thể ứng dụng trực tiếp cho mạng cảm biến. Bởi vì hai mạng này có nhiều khía cạnh khác nhau sau đây [4] - Mạng cảm biến được sử dụng chủ yếu để thu thập thông tin trong khi đó mạng MANET được thiết kế để tính toán phân tán nhiều hơn là việc thu thập thông tin. - Thông thường, một mạng lưới cảm biến được triển khai bởi 1 chủ sở hữu, trong khi MANETs có thể được điều hành bởi 1 số đơn vị không liên quan.
- Không giống như các nút trong mạng MANET, một nút trong mạng cảm biến không có định danh duy nhất. - Các nút trong mạng cảm biến thường rẻ hơn nhiều so với các nút trong mạng MANET và thường được triển khai lên tới hàng nghìn nút. - Nguồn năng lượng của các nút cảm biến có thể rất hạn chế, tuy nhiên các nút trong mạng MANET lại có thể được nạp bằng cách nào đó. z 14 - Thông thường, dữ liệu trong mạng cảm biến bị ràng buộc bởi luồng dữ liệu tải xuống các nút khác từ sink hoặc luồng dữ liệu tải lên sink từ các nút khác, trong khi ở mạng MANET, luồng dữ liệu này là không tuân theo quy tắc.
- Thông thường, các mạng cảm biến được triển khai 1 lần trong vòng đời của chúng, trong khi các nút trong mạng MANET thực sự có thể tái dùng lại. - Các nút mạng cảm biến bị giới hạn khả năng tính toán và khả năng giao tiếp hơn mạng MANET do chi phí tương ứng thấp. Dựa trên nền tảng công nghệ và các mạng đã tồn tại, mạng WSN được triển khai sẽ hỗ trợ và bổ sung nhằm làm phong phú hơn cho lĩnh vực kết nối mạng. Đồng thời mở ra nhiều hướng phát triển và ứng dụng mới.
Các thành phần chính trong mạng WSN [4, tr.15-16] Các nút cảm biến được phân bố phân tán trong trường cảm biến. Mỗi nút cảm biến có khả năng thu thập số liệu và chọn đường để gửi dữ liệu tới sink. Việc chọn đường để tới sink theo kiểu multi-hop như được minh họa trên Hình 1. Nút Sink có thể liên lạc với người dùng qua các mạng khác như Internet hay vệ tinh.1: Cấu trúc mạng cảm biến Như vậy có thể thấy rằng, một mạng WSN bao gồm 4 thành phần chính: Tập các nút cảm biến, được trang bị cảm biến cho một hoặc một vài ứng dụng cụ thể.
Mạng kết nối, thường là mạng vô tuyến Sink có thể là thực thể bên trong mạng (là một nút cảm biến) hay ngoài mạng (như một máy tính tương tác với mạng cảm biến, hoặc cũng có thể là một gateway cho một mạng khác lớn hơn như Internet). Sink chính là nơi đưa ra các yêu cầu đối với các thông tin lấy từ các nút cảm biến trong mạng. Tập các tài nguyên để xử lý dữ liệu nhằm đưa ra các cảnh báo, các định hướng hay các kết quả thống kê mà người dùng mong muốn. Ngoài ra, chúng ta có thể thấy rằng, mạng WSN gồm 2 thành phần đặc trưng khác đó là người dùng và trường cảm biến.
Trong đó, người dùng có thể là một cơ quan an ninh, một tổ chức xã hội hay một cá nhân người dùng đơn lẻ sở hữu nó… Còn z 15 trường cảm biến có thể là thế giới vật lý, một hệ thống sinh học hay hóa học… mà ở đó chứa dữ liệu cần thu thập. Công nghệ cảm biến [2, tr.75-91] Gần đây, các nhà nghiên cứu đã thể hiện sự quan tâm lớn tới mạng WSN và đã tập trung vào các vấn đề quan trọng trong việc phát triển mạng WSN như sử dụng hiệu quả, chi phí thấp, an toàn và khả năng chống chịu lỗi. Cùng với đó, công nghệ chế tạo các nút cảm biến cũng không ngừng được cải thiện cả về chất liệu, kích thước của như tính năng.