Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống y tế Việt Nam hiện có 1.065 bệnh viện và 1.081 trung tâm y tế, tuy nhiên chỉ khoảng 33,3% số cơ sở đáp ứng đầy đủ quy chuẩn vệ sinh và vận hành trạm xử lý nước thải đạt chuẩn. Theo các nghiên cứu dịch tễ học môi trường, nguồn nước thải y tế chưa qua xử lý triệt để đã gây ô nhiễm 84,5% đến 86,3% nguồn nước mặt và khoảng 88,4% diện tích đất xung quanh lưu vực tiếp nhận. Nước thải bệnh viện tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch bệnh do mang mật độ lớn vi khuẩn đường ruột nguy hại, dư lượng hóa chất tẩy rửa gốc clo và các hợp chất kháng sinh khó phân hủy sinh học.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Hà Quốc Dũng, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Huy Định tại Trường Đại học Lâm nghiệp (năm 2019), tập trung giải quyết bài toán kiểm soát ô nhiễm nguồn nước y tế. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là khảo sát hiện trạng công nghệ, đánh giá thực nghiệm hiệu quả xử lý nước thải tại các bệnh viện ở tỉnh Lạng Sơn và đề xuất giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu suất làm sạch nước thải y tế.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi 11 cơ sở y tế (gồm 1 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và 10 trung tâm y tế tuyến huyện) từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 04 năm 2019. Trọng tâm đánh giá chuyên sâu đặt tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn (quy mô 663 giường bệnh, trạm xử lý công suất 350 m3/ngày đêm) và Trung tâm Y tế huyện Hữu Lũng (quy mô 275 giường bệnh, công suất thiết kế 200 m3/ngày đêm). Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc kiểm soát tải lượng ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật, bảo vệ trực tiếp nguồn nước sinh hoạt cho hơn 1 triệu người dân vùng núi Đông Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết xử lý nước thải sinh học tổ hợp kỵ khí - thiếu khí - hiếu khí (mô hình AAO) kết hợp công nghệ màng sinh học chuyển động MBBR (Moving Bed Biofilm Reactor) và phương pháp lắng tầng mỏng Lamella. Quá trình phân hủy sinh học hiếu khí sử dụng bùn hoạt tính kết hợp đệm bám vi sinh giúp chuyển hóa amoni thành nitrat, đồng thời khoáng hóa các chất hữu cơ hòa tan với bề mặt tiếp xúc không khí cao.

Mô hình nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích đa tiêu chí (Multi-criteria Analysis) để đánh giá độ bền vững và tính phù hợp của công nghệ qua 4 nhóm trụ cột:

  • Nhóm tiêu chí kỹ thuật: Khả năng tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 28:2010/BTNMT về nước thải y tế, độ bền kết cấu thiết bị, tỷ lệ nội địa hóa và khả năng thích ứng khi dao động nồng độ đầu vào.
  • Nhóm tiêu chí kinh tế: Suất vốn đầu tư xây dựng, chi phí tiêu thụ điện năng, chi phí hóa chất khử trùng và chi phí nhân công vận hành tính trên 1 m3 nước thải.
  • Nhóm tiêu chí môi trường: Diện tích chiếm đất xây dựng, tỷ lệ phát thải bùn dư, khí thải thứ cấp và giải pháp ứng phó sự cố rò rỉ hóa chất.
  • Nhóm tiêu chí văn hóa - xã hội - quản lý: Mức độ chấp nhận của cộng đồng lân cận, độ mỹ học hài hòa cảnh quan bệnh viện và yêu cầu về năng lực đội ngũ vận hành.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được lượng hóa gồm: Nhu cầu oxy sinh học 5 ngày (BOD5 thường dao động từ 120 đến 200 mg/L), Nhu cầu oxy hóa học (COD trong khoảng 150 đến 250 mg/L), Tổng chất rắn lơ lửng (TSS từ 75 đến 250 mg/L) và Tải lượng nước thải y tế trung bình đạt từ 200 đến 700 lít/người/ngày.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng, kết hợp hồ sơ thiết kế kỹ thuật, báo cáo giám sát môi trường định kỳ và số liệu quan trắc thực địa. Cỡ mẫu khảo sát bao quát toàn diện 11/11 cơ sở y tế công lập trực thuộc Sở Y tế Lạng Sơn quản lý. Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng để lấy mẫu nước thải đầu vào (tại bể gom/điều hòa) và đầu ra (sau ngăn khử trùng) ở 2 cơ sở đại diện là Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn và Trung tâm Y tế huyện Hữu Lũng.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích phòng thí nghiệm theo các Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN 6001-1:2008 xác định BOD5, TCVN 6625:2000 xác định TSS, TCVN 8775:2011 xác định Coliforms, SMEWW 5220-C xác định COD) nhằm bảo đảm tính pháp lý và độ chính xác cao theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế qua việc bổ sung chế phẩm vi sinh chuyên dụng DW 97-H (liều lượng 2-3 mg/L) và hóa chất trợ lắng PACN-95 (5-8 mg/L) theo chu kỳ 2 đợt thử nghiệm, lấy mẫu sau mỗi 7 ngày để so sánh sự cải thiện của các chỉ số hóa lý. Timeline khảo sát hiện trạng diễn ra từ tháng 6 đến tháng 12/2018, giai đoạn lấy mẫu phân tích và thử nghiệm giải pháp thực hiện từ tháng 12/2018 đến tháng 04/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa ghi nhận 100% (11/11) bệnh viện tại Lạng Sơn đã đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải y tế và áp dụng công nghệ Aeroten kết hợp lọc sinh học hợp khối. Điểm nổi bật là 11/11 cơ sở đều triển khai hệ thống mạng lưới thu gom tách riêng biệt hoàn toàn giữa nước mưa chảy tràn và nước thải y tế, giúp hạn chế hiện tượng quá tải thủy lực trong mùa mưa bão.

Tình trạng quá tải bệnh nhân diễn ra phổ biến tại 10/11 cơ sở với công suất sử dụng giường bệnh thực tế đạt từ 108% đến 171%. Trung tâm Y tế huyện Hữu Lũng có tỷ lệ quá tải cao nhất lên tới 171% (quy mô 275 giường nhưng phục vụ thường xuyên khoảng 300 bệnh nhân nội trú), Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn đạt 159% (663 giường bệnh). Trung tâm Y tế huyện Cao Lộc là đơn vị duy nhất không quá tải với hiệu suất 86% do nằm gần bệnh viện tuyến tỉnh.

Lưu lượng nước thải thực tế phát sinh tại các cơ sở dao động từ 12 m3/ngày đêm (Trung tâm Y tế huyện Văn Quan) đến 85 m3/ngày đêm (Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn). Tất cả các hệ thống đều đang vận hành dưới ngưỡng công suất thiết kế (công suất thiết kế 200 m3/ngày đêm đối với tuyến huyện và 350 m3/ngày đêm đối với tuyến tỉnh).

Đặc tính nước thải đầu vào ghi nhận nồng độ ô nhiễm hữu cơ và vi sinh rất cao: BOD5 dao động 120 - 200 mg/L, COD từ 150 - 250 mg/L, TSS từ 75 - 250 mg/L và mật độ tổng Coliforms lên tới hàng triệu MPN/100 mL. Khi áp dụng quy trình xử lý hợp khối bổ sung chế phẩm vi sinh DW 97-H và chất keo tụ PACN-95, hiệu suất loại bỏ BOD5 tăng vọt từ mức 70 - 75% lên 90 - 95%, nồng độ Coliforms giảm hơn 99,8% sau khi khử trùng bằng dung dịch Clorua vôi với hàm lượng 4 - 6 mg Cl2/m3, đưa toàn bộ thông số đầu ra đạt chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính khiến lưu lượng nước thải thực tế chỉ chiếm khoảng 24,3% công suất thiết kế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh (85 m3 trên công suất 350 m3/ngày đêm) và 16% tại Trung tâm Y tế huyện Hữu Lũng (32 m3 trên công suất 200 m3/ngày đêm) xuất phát từ giải pháp phân luồng dòng thải khoa học. Nước thải tắm giặt ít ô nhiễm (chiếm 70 - 80% tổng lượng nước thải sinh hoạt) được thu gom khử trùng riêng, trong khi nước thải nhiễm khuẩn từ nhà vệ sinh được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại 3 ngăn có thời gian lưu cặn 20 ngày trước khi dẫn về trạm trung tâm. Nước thải labo xét nghiệm chứa kim loại nặng và hóa chất tráng phim được keo tụ cục bộ bằng PACN, bùn lắng sau đó được sấy khô và xử lý tại lò đốt chất thải nguy hại.

So sánh với các nghiên cứu của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường tại các bệnh viện đồng bằng, nước thải y tế miền núi Lạng Sơn có nồng độ chất hữu cơ tương đương nhưng độ ổn định dòng chảy cao hơn nhờ bể điều hòa dung tích lưu 6 giờ được sục khí liên tục.

Để tối ưu hóa trực quan, dữ liệu vận hành có thể được biểu diễn qua biểu đồ cột so sánh hiệu suất khử BOD5, COD, TSS trước và sau 2 lần bổ sung vi sinh DW 97-H. Đồng thời, bảng ma trận đa tiêu chí giúp các cơ quan quản lý dễ dàng đối chiếu chi phí điện năng, hóa chất và nhân công vận hành giữa các công nghệ truyền thống với công nghệ hợp khối MBBR.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tối ưu hóa hiệu quả vận hành và kéo dài tuổi thọ công trình xử lý nước thải y tế tại Lạng Sơn giai đoạn 2019 - 2025, luận văn đưa ra 4 giải pháp trọng tâm:

  • Định kỳ bổ sung chế phẩm vi sinh chuyên dụng DW 97-H với liều lượng 2 - 3 mg/L và chế phẩm BIOWC96 vào bể điều hòa với tần suất 1 lần/tuần nhằm duy trì màng vi sinh bám dính, hướng tới mục tiêu duy trì hiệu suất khử BOD5 trên 92% và giảm 30% lượng bùn hữu cơ tích tụ. Trách nhiệm thực hiện thuộc về cán bộ kỹ thuật vận hành thuộc Khoa Chống nhiễm khuẩn từ quý 3/2019.
  • Tự động hóa công đoạn khử trùng nước thải bằng hệ thống bơm định lượng dung dịch Ca(OCl)2 duy trì nồng độ 4 - 6 mg Cl2/m3 nước thải, đảm bảo mục tiêu triệt tiêu 100% vi khuẩn Samonella, Shigella và hạ Coliforms xuống dưới 3.000 MPN/100 mL trước khi xả thải. Đội ngũ vận hành trạm thực hiện liên tục hàng ngày dưới sự giám sát của Phòng Hành chính Quản trị.
  • Tăng cường kiểm soát phân luồng và xử lý sơ bộ nước thải labo xét nghiệm bằng chất trợ lắng PACN-95 (liều lượng 5 - 8 mg/L) nhằm kết tủa triệt để 100% dư lượng chì (Pb), thủy ngân (Hg) và hóa chất tráng phim trước khi hòa chung vào dòng thải tập trung. Kỹ thuật viên phòng xét nghiệm chịu trách nhiệm thực hiện theo từng mẻ làm việc.
  • Thiết lập quy chế bảo trì, bảo dưỡng thiết bị thổi khí cƣỡng bức định kỳ 3 tháng/lần và tổ chức hút bùn bể lắng, bể tự hoại 4 lần/năm thông qua hợp đồng liên kết với doanh nghiệp môi trường đô thị địa phương. Sở Y tế Lạng Sơn phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường bố trí ngân sách thường xuyên và tổ chức thanh tra quan trắc định kỳ 2 lần/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn cung cấp nhiều thông tin kỹ thuật và dữ liệu thực chứng hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Lãnh đạo bệnh viện và cán bộ quản lý môi trường y tế: Tham khảo mô hình phân luồng dòng thải, tối ưu hóa quy trình sử dụng hóa chất khử trùng và cắt giảm 15 - 20% chi phí điện năng vận hành hàng tháng.
  • Kỹ sư thiết kế và chuyên gia công nghệ môi trường: Sử dụng số liệu thực nghiệm về thời gian lưu nước (1 - 1,5 giờ ở ngăn yếm khí; 2 - 2,5 giờ ở ngăn hiếu khí), thông số định lượng vi sinh DW 97-H và tấm lắng Lamella để tính toán thiết kế modul hợp khối cho các cơ sở y tế quy mô dưới 500 giường.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Y tế, Sở Tài nguyên và Môi trường): Sử dụng bộ tiêu chí đánh giá đa mục tiêu (kỹ thuật, kinh tế, môi trường, xã hội) làm khung thẩm định cấp phép xả thải và kiểm toán môi trường đối với các dự án y tế công lập.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Môi trường: Khai thác làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu tình huống điển hình về đánh giá hiệu quả xử lý nước thải y tế tại khu vực miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

  • Nước thải y tế có những đặc tính nguy hại nào khác biệt so với nước thải sinh hoạt đô thị? Nước thải y tế chứa mật độ lớn vi khuẩn gây bệnh truyền nhiễm như Salmonella, Shigella, phẩy khuẩn tả Vibrio cholerae cùng dư lượng thuốc kháng sinh, hóa chất sát trùng và kim loại nặng. Những chất này có khả năng phá vỡ hệ cân bằng vi sinh tự nhiên, gây nguy cơ lây lan dịch bệnh đường tiêu hóa cho cộng đồng nếu xả thẳng ra nguồn tiếp nhận.

  • Tại sao công nghệ xử lý sinh học hợp khối MBBR lại phù hợp với các bệnh viện tuyến huyện? Công nghệ MBBR trong thiết bị hợp khối tích hợp cả ba quá trình kỵ khí, thiếu khí và hiếu khí trong diện tích nhỏ gọn, thi công nhanh và kiểm soát mùi hôi tốt. Hệ thống có khả năng thích ứng linh hoạt khi nồng độ chất ô nhiễm đầu vào biến động từ 12 đến 32 m3/ngày đêm, giảm đáng kể chi phí xây dựng ban đầu.

  • Việc bổ sung chế phẩm vi sinh DW 97-H đem lại hiệu quả thực tế ra sao đối với trạm xử lý? Chế phẩm vi sinh DW 97-H với liều lượng 2 - 3 mg/L giúp thúc đẩy quá trình thủy phân hợp chất hữu cơ cao phân tử, nâng hiệu suất xử lý BOD5 từ 70% lên hơn 90%. Đồng thời, men vi sinh đẩy nhanh tốc độ khoáng hóa bùn cặn và tiêu diệt mầm bệnh trứng giun sán trong bể chứa bùn.

  • Tại sao các bệnh viện quá tải giường bệnh trên 150% nhưng trạm xử lý nước thải không bị quá tải lưu lượng? Tình trạng quá tải xảy ra ở khâu điều trị nội trú, nhưng mạng lưới thoát nước đã tách riêng toàn bộ nước mưa và tách dòng nước tắm giặt ít ô nhiễm (chiếm 70 - 80%). Do đó, lưu lượng nước thải thu gom về trạm chỉ đạt 16 - 24,3% công suất thiết kế, đảm bảo trạm xử lý không bị sốc tải thủy lực.

  • Nước thải bệnh viện sau xử lý cần tuân thủ tiêu chuẩn môi trường nào trước khi xả ra mương chung? Nước thải y tế sau hệ thống xử lý bắt buộc phải đạt các chỉ số giới hạn theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 28:2010/BTNMT (Cột A hoặc Cột B tùy theo quy chuẩn nguồn tiếp nhận), đảm bảo an toàn tuyệt đối về chỉ số hữu cơ, kim loại nặng và không còn vi khuẩn gây bệnh nguy hại.

Kết luận

  • Luận văn đã điều tra, đánh giá toàn diện hiện trạng hệ thống xử lý nước thải tại 11 bệnh viện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn với 100% cơ sở đã vận hành công nghệ sinh học hợp khối.
  • Làm rõ đặc thù vận hành: 10/11 bệnh viện có công suất sử dụng giường bệnh quá tải từ 108% đến 171%, nhưng lưu lượng nước thải thực tế dao động 12 - 85 m3/ngày đêm vẫn nằm trong giới hạn thiết kế 200 - 350 m3/ngày đêm.
  • Chứng minh tính ưu việt của giải pháp bổ sung chế phẩm vi sinh DW 97-H (2 - 3 mg/L) kết hợp keo tụ PACN-95, giúp nâng hiệu suất khử BOD5 lên 90 - 95% và xử lý Coliforms đạt chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT.
  • Xây dựng thành công khung phân tích đa tiêu chí định lượng (kỹ thuật, kinh tế, môi trường, xã hội) phục vụ công tác lựa chọn công nghệ xử lý nước thải y tế bền vững.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, phân luồng dòng thải và quản lý cơ điện định kỳ cho các cơ sở y tế đến năm 2025.

Công trình là tài liệu khoa học ứng dụng có giá trị cao cho các nhà quản lý y tế và môi trường. Độc giả và các đơn vị quan tâm có thể tìm đọc toàn văn luận văn tại Thư viện Trường Đại học Lâm nghiệp để tiếp cận các bảng dữ liệu thực nghiệm chi tiết và áp dụng trực tiếp vào công tác quản trị môi trường bệnh viện.