chương 1 Công trình xanh được thiết kê dé giảm thiểu tác động của chúng đối với môi trường và cộng đồng xung quanh, là một kết quả của một thiết kế tập trung vào sử dụng năng lượng hiệu quả. Do đó, làm giảm tác động của xây dựng đên sức khỏe con người và môi trường trong vòng đời của dự án. Nghiên cứu đưa ra 3 mục tiêu nghiên cứu quan trọng trong phạm vi và đôi tượng nghiên cứu cụ thé bao gồm: (1) Xác định các nhóm chỉ tiêu và những chỉ tiêu cụ thể; (2) Ứng dụng khung chỉ tiêu tim được dé đánh giá hiệu quả; (3) Dé xuất các giải pháp, lựa chọn những chỉ tiêu mang lại hiệu quả cao trong quá trình vận hành công trình xanh tại Việt Nam. Nghiên cứu xác định được các đóng góp dự kiến về mặt học thuật và thực tiễn giup các bên liên quan có mô hình khoa học đánh giá khách quan, rõ rang các hiệu qua công trình xanh trong quá trình vận hành.
CHƯƠNG2 - TÔNG QUAN 2.1 Công trình hiệu quả năng lượng, công trình xanh. Công trình hiệu quả năng lượng là công trình được thiết kế, cải tạo hoặc vận hành để tiêu thụ ít năng lượng hơn một công trình bình thường. Công trình xanh là một thuật ngữ tong quát, dé cập đến các kĩ thuật thiết kế có ý thức về môi trường trong lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, quản lý và vận hành. Y tưởng chủ đạo của phát trién bền vững trong công trình xanh là bảo đảm những tác động của con người không gây hại tới môi trường sống và phát triển trong tương lai.NGND Pham Ngọc Đăng đã dé xuat định nghĩa công trình xanh như sau: “Công trình xanh là một công trình được thực hiện bằng tập hợp các giải pháp thiết kế kỹ thuật kiến trúc sáng tạo, thân thiện với thiên nhiên và môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng, tài nguyên nước, vật liệu, hài hòa kiến trúc với cảnh quan và sinh thái tự nhiên, tạo ra điêu kiện sống tốt nhất cho người sử dụng ” 17).
Hiện nay, khái nệm “Xanh” [7| thay thé hoàn toàn cho khái niệm bền vững và được công nhận trên thé giới và kiến trúc xanh được đông nhật với kiến trúc bền vững.2 Sự ra đời và phát triển công trình xanh Năm 1990, tổ chức Nghiên cứu xây dựng nước Anh (Building Research Establishment-BRE) đã đưa ra bộ tiêu chí BREEAM (Building Research Establishment Environmental Assessment Method), là phương pháp đánh giá môi trường đối với công trình, đây là khởi đâu của xu hướng CTX. Năm 1993, Hội đông CTX của Mỹ (US Green Building Council -USGBC) được thành lập cùng với bộ tiêu chí đánh giá CTX có tên “Chỉ dẫn thiết kế môi trường và năng lượng” (Leadership in Energy and Environmental Design - LEED). Canada cũng hình thành xu hướng phát triển CTX vảo năm 1998. Sau đó, CTX đã phát triển rat mạnh mẽ và nhanh chóng trên thé giới [4].
Ong Richard Fedrizi, chủ tịch USGBC, năm 1999 đã viết “Cuộc cách mạng CTX đang diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc. Nó đang làm biến đôi thị trường nhà dat, nhà ở và lôi sông của cộng đồng. Nó là một phan của cuộc cách mạng phat triển bền vững rộng lớn, có thé biên đối mọi thứ chúng ta đã biết. Cuộc cách mang nay làm thay đổi môi trường xây dung bang cách tạo ra hiệu quả sử dụng năng lượng, sức khỏe, các công trình hữu ich để giảm thiểu tac động đáng ké của công trình đối với cuộc sống đô thị, môi trường địa phương, khu vực và toan cầu”.[Š] Tuy mới ra đời hơn hai thập niên (1990-2015) nhưng công trình xanh đã phát triển mạnh, lan rộng và đang dân trở thành xu hướng xây dựng lớn nhật trên toan thé giới.3 Tiêu chí đánh giá công trình xanh Hiện nay trên thê giới đã có hơn 30 quốc gia có hệ thông đánh giá CTX.
Trong số đó, tiêu chuẩn LEED của Mỹ là hệ thông thông dụng nhật. Mỗi hệ thong đánh giá CTX có những tiêu chí cụ thé va cách tính điểm riêng. Tuy nhiên, có 5 tiêu chí chung mà tat cả các hệ thông đánh giá CTX đêu yêu câu, kê cả LOTUS va tiêu chuân KTX của Hội kiên trúc sư Việt Nam, đó là: (1) Lua chọn địa điểm bên vững: (2) Sử dụng nước hiệu quả; (3) Năng lượng và môi trường: (4) Vật liệu và nguôn nguyên liệu; (5) Chất lượng không khí trong nhà [5].2 Hiệu quả của công trình xanh Phát triển CTX có thé mang lại lợi ích về kinh tế - xã hội - môi trường và đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triên bền vững quốc gia. Chính vì thê, phát triên CTX ở Việt Nam là yêu câu bức thiết hiện nay, là sự lựa chọn hiệu quả của ngành xây dựng — kiến trúc Việt Nam.
Kết quả nỗi bật của thực hiện chương trình phát triển CTX của nhiều nước trên thé giới cho thấy lợi ích của phát triển CTX mang lại là [7]: (1) Tiết kiệm 30-50% tài nguyên nước và năng lượng nhân tạo, nhờ đó giảm phát thải khí nhà kính (CO2) tương ứng: (2) Giảm chi phí vận hành và bảo dưỡng khoảng 10-15%, đặc biệt là chi phí vận hành năng lượng: (3) Năng suất lao động của những người sử dụng công trình tăng 3-5%; (4) Nguy cơ bệnh tật giảm >5% và nâng cao sức khỏe người sử dụng: (5) Gia tri công trình tăng, thương hiệu và uy tín của công ty thiết kế xây dựng tăng, làm thay đối thị trường bất động sản theo chiều hướng tích cực; (6) CTX chính là cam kết bảo đảm phát triển bền vững của ngành xây dựng - kiến trúc [7]. LEED Credit Categories Sustainable Hình 2.1: Biểu do tiêu chi đánh gid công trình xanh của LEED — Mỹ (Nguôn WGBC). Đứng trước những thách thức và chịu ảnh hưởng về biên đôi khí hậu toàn câu, Việt Nam cũng đã xây dựng 2 hệ thống chỉ tiêu đánh giá công trình xanh: (1) Tiêu chuẩn Lotus được ban hành bởi VGBC — Viet Nam Green Building Council; (2) Tiêu chí đánh giá công trình xanh do hội kiến trúc sư Viêt Nam dé xuất ngày 05 tháng 12 năm 2013 dưới sự chủ trì của PGS.TS Phạm Đức Nguyên. § CHỦ ĐẦU TU Tại sao tôi muốn KHÁCH HÀNG fh Tại sao tôi muốn xây dựng một công trình xanh? thuê một công trình xanh? giá bán cao hơn cai thiện.
các chi phí thiết kể và thi công thấp hơn tang - à năngsuất tiêu thụ. nhanh hơn CHỦ CÔNG TRÌNH Tại sao tôi muốn sở hữu một công trình xanh? Hình 2.2: Lợi ich của công trình xanh (Nguồn WGBC).3 Sự phát triỀn công trình xanh ở Việt Nam Với những ưu thé sử dụng tải nguyên, giảm chi phi vận hành, giảm thiểu tác động tới môi trường trong khi vẫn đảm bảo tiện nghi cho người sử dụng một cách hiệu quả, các công trình xanh đã trở thành xu hướng phát triển trên thé giới hiện nay. Từ từ năm 2007, công trình xanh đã được phát triển ở Việt Nam và nhận được sự ủng hộ từ Chính phủ và cộng đồng. Mặc dù chưa được nhận thức rộng rãi trên thị trường.
số lượng công trình xanh, bền vững được chứng nhận mới chỉ dừng lại ở con số hơn 150 công trình đạt chứng nhận LEED, Lotus, chứng chỉ tiết kiệm năng lượng của tô chức EDGE. Sau gần một thập kỷ triển khai, đây là một con số khiêm tốn so với hơn 300 công trình đã được chứng nhận tại Malaysia và gần 2000 công trình xanh tại Singapore. NUMBER OF LEED PROJECTS (NEW REGISTRATIONS) IN VIETNAM 2015-2018 Others Education Healthcare Retail 8% 2% 1% 2% Hospitality 4% Multi-family Residential 8% Industrial 44% Office 31% Hình 2.3; Số công trình đăng ki cấp chứng chỉ Leed ở Việt Nam từ 2015-2018 (Nguôn WGBC). Theo thống kê của hội đồng công trình xanh của Mỹ, các công trình xây dựng được cấp và đăng kí cap chứng nhân công trình xanh LEED của Mỹ tại Việt Nam ngày cảng tăng từ năm 2015-2018 va phân đều ở các lĩnh vực.
Trong đó, nhiều nhất là: (1) Công trình vphong, thương mại chiếm 31%; (2) Công trình công nghiệp 44%; (3) Khu ở 8%; (4) Giáo Dục 2%; (5) Tô chức y tế 4%; (6) Các thé loại công trình khác chiêm 8%. NUMBER OF LOTUS PROJECTS (NEW REGISTRATIONS) 2015-2018 Education Others 21% 23% Retail Hospitality 5% 10% Multi-family Residential 5% Industrial 18% Hình 2.4; Số công trình đăng kí cấp chứng chi Lotus ở Việt Nam từ 2015- 2018 (Nguôn WGBC). Lotus là hệ thông đánh giá công trình xanh của Việt Nam. Từ năm 2015-2018 cũng nhận được nhiêu đăng kí với: (1) Công trình giáo dục 21%; (2) Công trình văn phòng 18%: (3) Công nghiệp 18%; (4) Bênh viện - Y tế 10%; (5) Khu ở chiếm 5%; (6) Công trình lẻ 5%; (7) Các loại công trình khách chiếm 23%.
Trong những năm gan đây số lượng công trình đăng kí và nhận chứng nhận công trình xanh trong nước và quôc tê ngày càng được chính phủ, tô chức tư nhân, doanh ngiệp, xã hội quan tâm và ghi nhận. 10 LEED projects (Registered) in Vietnam 2007-2018 60 900,000 800,000 50 700,000 40 600,000 500,000 30 400,000 20 300,000 200,000 10 100,000 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 mam Number of projects registered exe GFA (sqm) Hình 2.5: Công trình dang ki nhận chứng chi Leed ở Việt Nam từ 2007- 2018 (Nguôn WGBC). Từ năm 2007 — 2018, số lượng công trình đăng kí nhận chứng chỉ Leed của Mỹ tai Việt Nam gia tăng từ 1 -> gan 60 công trình. Trong năm 2013 tỉ lệ công trình đăng kí có phan giảm, nguyên nhân là do suy thoái kinh tế, ngành xây dựng bị chững lại, nhưng tới năm 2016 tỉ lệ đăng kí nhận chứng chỉ công trình xanh tăng mạnh và hơi giảm trong năm 2017 và có chiêu hướng tăng lại trong năm 2018.
LEED projects (certified) in Vietnam 2007-2018 18 140000 16 120000 14 100000 12 10 80000 WH+oNwD> 60000 40000 20000 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 B8 Number of projects certified exe GFA (sqm) Hình 2.6; Số lượng công trình được cấp chứng chỉ Leed ở Việt Nam từ 2010-2018 (Nguồn WGBC). So với số lượng công trình đăng kí thì lượng công trình được cấp chứng chỉ Leed của Mỹ có tính tỉ lệ thuận về SỐ lượng công trình và diện tích san sử dụng. Năm 2010 số công trình được cap chứng nhận là 2, với tông diện tích sàn (GEA = 20.000m2) thì tới năm 2018 số công trình được cấp chứng nhận là trên 16 tương ứng với diện tích sản (GFA = 140. 11 20 300,000 18 250,000 16 14 200,000 12 10 150,000 WD+onwH> 100,000 50,000 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Gam Number of projects registered em GFA (sqm) Hình 2.7; Số lượng công trình đăng ki nhận chứng chi Lotus ở Việt Nam từ 2010-2018 (Nguồn WGBC).