Luận văn ThS Trần Văn Mười: Đánh giá hiệu quả mô hình trồng rừng Keo lai Bảo Lạc, Cao Bằng

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết "Đánh giá hiệu quả mô hình trồng rừng Keo lai tại Bảo Lạc, Cao Bằng". Dưới đây là kết quả: {

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

95
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về mô hình trồng rừng Keo lai tại Bảo Lạc

Huyện Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng là một trong những vùng trọng điểm phát triển rừng nguyên liệu phía Bắc Việt Nam. Mô hình trồng rừng Keo lai tại khu vực này được triển khai nhằm mục đích cải thiện thu nhập cho người dân, phủ xanh đất trống đồi trọc và cung cấp gỗ nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Nghiên cứu của Trần Văn Mười (2020) thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã đánh giá toàn diện hiệu quả của nhiều mô hình trồng rừng trên địa bàn huyện. Kết quả cho thấy Keo lai là loài cây phù hợp với điều kiện lập địa Bảo Lạc, có khả năng sinh trưởng nhanh, cho năng suất cao và hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loài cây trồng khác. Tuy nhiên, hiệu quả của mô hình phụ thuộc lớn vào các yếu tố như giống, mật độ trồng, biện pháp kỹ thuật canh tác và điều kiện tự nhiên từng vùng lập địa. Việc đánh giá chính xác các yếu tố này là cơ sở quan trọng để xây dựng quy trình trồng rừng Keo lai hiệu quả và bền vững tại Bảo Lạc.

1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tại Bảo Lạc

Bảo Lạc nằm ở phía tây tỉnh Cao Bằng, có địa hình chủ yếu là đồi núi cao với độ dốc lớn. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình năm dao động từ 1.200 đến 1.600 mm, phân bố không đều theo mùa. Đa dạng các loại đất như đất feralit, đất mùi vàng trên đá phiến sét, phù hợp cho phát triển lâm nghiệp. Kinh tế địa phương chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Trồng rừng Keo lai trở thành hướng đi tiềm năng giúp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất rừng, góp phần xóa đói giảm giảm nghèo bền vững.

1.2. Đặc điểm sinh học của giống Keo lai

Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) là kết quả lai giữa hai loài keo bản địa, thừa hưởng ưu điểm vượt trội từ cả hai loài bố mẹ. Cây có tốc độ sinh trưởng nhanh, thân thẳng, ít phân cành, chất lượng gỗ tốt, phù hợp cho sản xuất giấy và ván ép. Keo lai có khả năng cố định đạm tự nhiên qua nốt sần vi khuẩn cộng sinh ở rễ, cải thiện độ phì nhiêu đất. Tuổi khai thác phổ biến từ 5 đến 7 năm. Các nghiên cứu cho thấy Keo lai đạt đường kính trung bình 14-20 cm, chiều cao 12-18 m sau 6 năm trồng trên lập địa tốt, năng suất gỗ trung bình đạt 15-25 m3/ha/năm tùy điều kiện chăm sóc và mật độ trồng.

II. Phân tích hiệu quả sinh trưởng và năng suất rừng Keo lai

Kết quả nghiên cứu tại Bảo Lạc cho thấy hiệu quả sinh trưởng và năng suất rừng Keo lai biến động đáng kể theo mật độ trồng, biện pháp kỹ thuật và điều kiện lập địa. Các mô hình trồng với mật độ từ 1.111 đến 1.666 cây/ha cho kết quả sinh trưởng tốt nhất. Sau 3 năm trồng, rừng Keo lai mật độ 1.666 cây/ha đạt năng suất cao nhất khoảng 21 m3/ha/năm, trong khi mật độ 952 cây/ha chỉ đạt 9,7 m3/ha/năm. Đường kính trung bình giảm khi mật độ tăng do cạnh tranh ánh sáng và dinh dưỡng. Chiều cao cây lại tăng theo mật độ do hiện tượng vươn sáng. Việc bón phân có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng, đặc biệt phân lân và đạm giúp tăng đường kính và chiều cao đáng kể. Tuy nhiên, lượng bón cần được tính toán phù hợp với từng loại đất, tránh lãng phí và ô nhiễm môi trường. Các mô hình áp dụng đúng quy trình kỹ thuật cho hiệu quả kinh tế cao hơn 30-40% so với trồng tự phát.

2.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng cây Keo lai

Mật độ trồng là yếu tố kỹ thuật quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và năng suất rừng Keo lai. Nghiên cứu của Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) tại Đông Nam Bộ đã khảo sát bốn mật độ: 952; 1.111; 1.142 và 1.666 cây/ha. Kết quả chỉ ra rằng mật độ cao giúp tăng sinh khối trên đơn vị diện tích nhưng giảm đường kính cây cá thể. Tại Bảo Lạc, mật độ khuyến nghị là 1.300-1.666 cây/ha tùy mục đích khai thác. Mật độ quá cao trên 2.000 cây/ha dẫn đến cạnh tranh gay gắt, tăng chi phí tỉa thưa và giảm chất lượng gỗ tròn. Mật độ thấp dưới 1.000 cây/ha gây lãng phí đất, cành nhánh phát triển mạnh ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng gỗ nguyên liệu công nghiệp.

2.2. Tác động của bón phân và biện pháp canh tác đến năng suất

Bón phân là biện pháp kỹ thuật then chốt nâng cao hiệu quả trồng rừng Keo lai. Nghiên cứu cho thấy việc bổ sung phân lân với liều lượng 100-200 kg P2O5/ha giúp tăng đáng kể chiều cao và đường kính cây, đặc biệt trong 2 năm đầu. Phân đạm cũng có vai trò quan trọng trên đất nghèo dinh dưỡng. Biện pháp làm đất trước khi trồng như cuốc hố, lên luống giúp cải thiện khả năng thoát nước và phát triển bộ rễ. Tại Bảo Lạc, việc áp dụng đồng bộ kỹ thuật bón phân, làm đất và quản lý cỏ dại giúp tăng năng suất gỗ từ 20-35% so với trồng không chăm sóc. Hiệu quả kinh tế tăng rõ rệt khi đầu tư đúng mức vào chăm sóc rừng trong những năm đầu tiên.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng Keo lai tại Bảo Lạc

Để nâng cao hiệu quả mô hình trồng rừng Keo lai tại Bảo Lạc, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ khâu chọn giống, quy hoạch đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Trước hết, nguồn giống chất lượng cao là yếu tố quyết định. Cần sử dụng giống lai F1 có nguồn gốc rõ ràng, tỷ lệ sống cao và tốc sinh trưởng nhanh. Quy hoạch lập địa trồng rừng phải dựa trên đánh giá chi tiết điều kiện thổ nhưỡng, địa hình và khí hậu từng vùng. Áp dụng quy trình kỹ thuật đồng bộ gồm làm đất đúng cách, bón phân cân đối và mật độ trồng hợp lý. Đào tạo tập huấn cho người dân về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng là nhiệm vụ cấp thiết. Xây dựng chuỗi liên kết từ trồng rừng đến chế biến và tiêu thụ giúp tăng giá trị sản phẩm. Chính sách hỗ trợ tín dụng, bảo hiểm rừng trồng cần được hoàn thiện để khuyến khích người dân đầu tư dài hạn.

3.1. Giải pháp kỹ thuật cải thiện chất lượng rừng trồng

Giải pháp kỹ thuật bao gồm nhiều khâu từ giống đến khai thác. Về giống, cần ưu tiên sử dụng hom lai F1 từ các chương trình cải thiện giống quốc gia, đảm bảo tỷ lệ sống trên 85%. Về kỹ thuật trồng, đào hố kích thước 40x40x30 cm, bón lót 200-300 gram phân NPK mỗi hố. Thời vụ trồng tốt nhất là tháng 5-7 khi bắt đầu mùa mưa. Mật độ khuyến nghị 1.300-1.500 cây/ha cho rừng nguyên liệu gỗ lớn, 1.600-1.800 cây/ha cho rừng nguyên liệu giấy. Tỉa cành, tỉa thưa định kỳ giúp cải thiện chất lượng thân gỗ. Phòng trừ sâu bệnh bằng biện pháp sinh học, hạn chế sử dụng hóa chất để bảo vệ hệ sinh thái rừng bền vững.

3.2. Chính sách phát triển và liên kết thị trường tiêu thụ

Phát triển trồng rừng Keo lai bền vững tại Bảo Lạc cần có chính sách hỗ trợ toàn diện từ chính quyền địa phương. Tín dụng ưu đãi cho nông dân vay vốn trồng rừng với lãi suất thấp, thời hạn vay dài từ 7-10 năm phù hợp chu kỳ khai thác. Xây dựng hợp đồng bao tiêu sản phẩm giữa người trồng rừng và nhà máy chế biến gỗ, giấy giúp ổn định đầu ra. Phát triển công nghiệp chế biến gỗ tại chỗ tạo giá trị gia tăng cao. Bảo hiểm rừng trồng giúp giảm rủi ro thiệt hại do thiên tai, cháy rừng. Đào tạo nguồn nhân lực địa phương về kỹ thuật lâm nghiệp hiện đại, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Xây dựng thương hiệu gỗ Keo lai Bảo Lạc trên thị trường trong nước và xuất khẩu.

IV. Kết luận và ứng dụng trong phát triển lâm nghiệp bền vững

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả mô hình trồng rừng Keo lai tại Bảo Lạc, Cao Bằng đã khẳng định tiềm năng lớn của loài cây này trong phát triển lâm nghiệp vùng núi phía Bắc. Kết quả cho thấy Keo lai phù hợp với điều kiện tự nhiên Bảo Lạc, cho sinh trưởng nhanh, năng suất cao và hiệu quả kinh tế vượt trội. Mô hình trồng với mật độ 1.300-1.666 cây/ha, kết hợp bón phân cân đối và chăm sóc đúng kỹ thuật mang lại hiệu quả tối ưu. Năng suất gỗ trung bình đạt 15-22 m3/ha/năm tùy điều kiện lập địa và mức độ đầu tư. Giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với các loài cây trồng truyền thống khác. Từ kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị về kỹ thuật canh tác và chính sách phát triển được đề xuất nhằm nhân rộng mô hình hiệu quả. Ứng dụng rộng rãi mô hình này sẽ góp phần phủ xanh đất trống, bảo vệ môi trường, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội địa phương.

4.1. Kết quả đạt được và hạn chế của mô hình

Mô hình trồng rừng Keo lai tại Bảo Lạc đạt được nhiều kết quả tích cực. Diện tích rừng trồng không ngừng mở rộng, góp phần tăng độ che phủ rừng toàn huyện. Thu nhập bình quân từ rừng Keo lai đạt 30-50 triệu đồng/ha/chu kỳ, cao hơn 2-3 lần so với trồng ngô, sắn trên cùng diện tích. Tuy nhiên, mô hình vẫn tồn tại một số hạn chế: nguồn giống chưa đảm bảo đồng đều chất lượng, kỹ thuật canh tác của nhiều hộ dân còn lạc hậu, cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn hạn chế gây khó khăn vận chuyển sản phẩm. Năng suất rừng trồng biến động lớn giữa các mô hình do chênh lệch kỹ thuật và điều kiện lập địa. Công tác bảo vệ rừng phòng chống cháy chưa được quan tâm đúng mức.

4.2. Ứng dụng và hướng phát triển trong tương lai

Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao cho công tác quy hoạch và phát triển lâm nghiệp tại các tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện tương tự Bảo Lạc. Mô hình trồng Keo lai kết hợp với chăn nuôi dưới tán rừng, phát triển lâm nghiệp đa mục tiêu là hướng đi tiềm năng. Áp dụng công nghệ viễn thám, GIS trong quản lý và giám sát rừng trồng giúp nâng cao hiệu quả quản lý. Phát triển chứng chỉ rừng FSC, PEFC giúp sản phẩm gỗ Keo lai tiếp cận thị trường quốc tế giá trị cao. Nghiên cứu tiếp tục đánh giá hiệu quả hấp thụ carbon của rừng Keo lai phục vụ thị trường tín chỉ carbon, mở ra nguồn thu nhập mới cho người trồng rừng. Hướng tới lâm nghiệp bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Luận văn thạc sĩ đánh giá hiệu quả một số mô hình trồng rừng tại huyện bảo lạc tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Trên thế giới Trồng rừng là 1 môn khoa học quan trọng trong công tác xây dựng rừng, nên các nhà khoa học ở các nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu từ rất sớm, có thể điểm qua 1 số công trình nghiên cứu điển hình sau đây: 1. Những kết quả nghiên cứu về lập địa Tập hợp kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức Nông lương Quốc tế FAO đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào bốn nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: 1) khí hậu, 2) địa hình, 3) loại đất, 4) hiện trạng thực bì. Điển hình là các công trình nghiên cứu của Julian Evans (1974 và 1992) Pandey (1983), Golcalves J.

Khi nghiên cứu đặc điểm đất ở Châu Phi, Julian Evans (1974) cho rằng đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về độ dầy tầng đất, cấu trúc vật lý đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối. Vì thế, khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loại đất ấy cũng khác nhau. Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông P. patula ở Swaziland, Evans, J (1974) đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài cây này có quan hệ khá chặt (R=0.81) với các yếu tố địa hình và đất đai.

Khảo sát rừng trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau, Pandey (1983) đã chỉ cho thấy Bạch đàn E. camaldulensis trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thường chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng ở vùng nhiệt đới ẩm thì có thể đạt tới 30m3/ha/năm. Rõ ràng điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau rõ rệt. Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil, Golcalves J.M và cộng sự (2004) cho rằng năng suất rừng trồng là sự kết hợp thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác.

Ngoài ra, tác giả 5 còn chỉ cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan đến các yếu tố môi trường theo thứ tự mức độ quan trọng sau đây: nước > dinh dưỡng > độ sâu tầng đất. Dẫn theo Lê Đình Khả, 1999 Pinso và Nasi (1991) đã đánh giá Keo lai tại Sabah một cách tổng hợp và chỉ ra rằng: cây lai có ưu thế lai và ưu thế lai này có thể chịu sự ảnh hưởng của cả yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa. Họ cũng thấy sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiên đời F1 tốt hơn xuất xứ Sabah của Keo tai tượng, song kém hơn xuất xứ ngoại lai như Oriomo (Papua New Guinea) hoặc Claudie River (Quensland, Australia), còn sinh trưởng của những cây đời F2 trở đi thì không đồng đều so với trị số trung bình và còn kém hơn cả Keo tai tượng, mặc dầu một số cây xuất sắc có khá hơn. Thông qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy việc xác định điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết, đó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng rừng trồng.

Những kết quả nghiên cứu về giống Giống là một vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng suất rừng trồng nên nhiều nước trên thế giới đã đi trước chúng ta nhiều năm về vấn đề cải thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Điển hình như ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt 35m3/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7. Bằng con đường chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn được giống Eucalyptus grandis đạt tới 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn đựơc giống Pinuspatala sau 15 năm tuổi đạt 19m3/ha/năm (Pandey, 1983). Ở Zimbabwecũng đã chọn được giống E.

grandis đạt từ 35-40m3/ha/năm, giống E. urophyllađạt trung bình tới 55m3/ha/năm, có nơi lên đến 70m3/ha/năm (Campinhos và Ikenmori, 1988). Keo lai là tên gọi tắt để chỉ giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (A. mangium) và Keo lá tràm (A.

auriculiformis), giống lai này được Messrs Herburn và Shim phát hiện lần đầu tiên vào năm 1972 trong số những cây 6 Keo tai tượng được trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah của Malaysia. Sau này Tham (1976) cũng coi đó là giống lai. Đến tháng 7 năm 1978 Pedgley đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm (dẫn theo Lê Đình Khả, 1999). Dẫn theo Phùng Nhuệ Giang (2008): Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở Papua New Guinea (Griffin, 1988), ở Malaysia và Thái Lan (Kijkar, 1992).

Ngoài ra, từ năm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo lai từ nuôi cấy mô cùng Keo tai tượng và Keo lá tràm. Keo lai còn được tìm thấy ở vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống từ Malaysia) tại Trạm nghiên cứu Jon-Pu của Viện nghiên cứu lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al, 1989) và khu trồng Keo tai tượng tại Quảng Châu- Trung Quốc (dẫn theo Lê Đình Khả, 1999). Năm 1997 Somyos Kijkar, Montagu và các cộng sự (dẫn theo Vũ Tấn Phương, 2001đã nghiên cứu hình thái và sinh trưởng của Keo lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm tại Trung tâm giống cây rừng ASEAN và loài bố mẹ được trồng ở tại Thái Lan. Thí nghiệm được trồng ở 3 vị trí những cấp tuổi khác nhau như: 4,5; 6,5; 9,5 tuổi.

Trong đó cấp tuổi ở 6,5 và 9,5 được trồng từ hạt cây Keo lai, còn lại ở cấp tuổi 4,5 được trồng bằng cây nhân giống vô tính có chọn lọc. Kết quả chỉ ra rằng đặc tính hình thái của cây lai được thể hiện tính trung gian giữa cây bố và cây mẹ. Sinh trưởng giữa các loài cây đó được biến đổi rất lớn trong 3 nhóm và với cây bố mẹ. Giống lai sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ, cây lai vô tính sinh trưởng nhanh nhất.

Những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ Mật độ trồng rừng ban đầu là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng khá rõ đến năng suất rừng trồng. Vấn đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình như: Công trình nghiên cứu của Evans, J.(1992), tác giả đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau (2985 ;1680 ;1075 và 750 cây/ha) cho Bạch đàn E.deglupta ở Papua New Guinea, số liệu thu được sau 5 7 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng mật độ cao. Tại Malaysia năm (1995) người ta tiến hành xây dựng rừng hỗn loài nhiều tầng trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng và rừng Tếch với 23 loài bản địa có giá trị, trồng theo băng có chiều rộng khác nhau (10m, 20m, 30m, 40m) và phương thức hỗn giao khác nhau. Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng chiều cao tốt ở băng 10m và 40m.

Như vậy, mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến năng suất, chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì thế cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp. Những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng và năng suất rừng trồng Bón phân cho cây trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello (1976) ở Brazil cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân, nếu bón NPK thì năng suất rừng trồng có thể tăng lên trên 50%. Trong một công trình nghiên cứu khác ở South Africa của Schonau (1985) về vấn đề phân bón cho bạch đàn Eucalyptus grandis đã cho thấy công thức bón 150gNPK/gốc với tỷ lệ N :P :K= 3 :2 :1 có thể nâng chiều cao trung bình của rừng trồng lên gấp 2 lần sau năm thứ nhất. Đối với Thông P.

caribeae ở Colombia, Bolstad và cộng sự (1988) cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực mang lại hiệu quả rõ rệt cho rừng trồng như Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium. Khi nghiên cứu phân bón cho rừng Thông P.caribeae ở CuBa, Herrero và cộng sự (1988) cũng cho thấy bón Phosphate đã nâng sản lượng từ 56m3 lên 69m3/ha sau 13 năm trồng. Những kết quả nghiên cứu về chính sách thị trường Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất trong đó hiệu quả về kinh tế là chủ yếu. Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài.

Đồng thời phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng với người dân. Theo nghiên cứu của Thomas Enters và Patrick B. Durst (2001), để phát triển trồng rừng sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự tập trung đầu tư về kinh tế và kỹ thuật còn phải nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường. Nhận biết được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất nên tại các nước phát triển như Mỹ, Canada, Nhật.

nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trên quan điểm “Thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng, chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sẽ phải sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá. Dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua Liu Jinlong (2004) đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng như: - Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá. - Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của nhà nước.

- Giảm thuế đánh vào các lâm sản. - Đầu tư tái chính cho tư nhân trồng rừng. - Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ