CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Khái quát các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng: Theo Aubyn et al (2009), hiệu quả về cơ bản là sự so sánh giữa đầu vào được sử dụng trong một số hoạt động và kết quả được tạo ra. Nói đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, có nhiều cách tiếp cận khác nhau tùy vào chủ thể, mục tiêu đánh giá. Nhìn chung, hiện nay có 04 phương pháp chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng là phân tích các hệ số tài chính, phân tích CAMELS, đo lường giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) và phân tích hiệu quả biên.
Phân tích các hệ số tài chính: Phân tích hệ số tài chính là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong việc đánh giá, phân tích hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại hiện nay. Phương pháp này có thể được thực hiện dễ dàng dựa trên số liệu sẵn có từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại. Hiện nay, có nhiều hệ số tài chính được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tương ứng với các mục tiêu đánh giá khác nhau mà hệ số tài chính được sử dụng cũng khác nhau. Nhìn chung, hai nhóm hệ số tài chính quan trọng nhất, được quan tâm nhiều nhất là nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời và nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro trong hoạt động của ngân hàng.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời: Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận của vốn kinh doanh. Các tỷ lệ quan trọng nhất được sử dụng để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng được sử dụng hiện nay gồm (1) tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), (2) tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), (3) tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), (4) tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên và (5) tỷ lệ thu nhập trên cổ phiếu (EPS). Theo Rose (1998), ROA là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý, cho thấy khả năng chuyển tài sản thành thu nhập ròng còn ROE là chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu 123doc 6 nhập cho các cổ đông của ngân hàng, thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng. ROA và ROE được tính bằng công thức sau: Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lợi trên = tổng tài sản (ROA) Tổng tài sản Tỷ suất sinh lợi trên Lợi nhuận ròng = vốn chủ sở hữu (ROE) Vốn chủ sở hữu Về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên, trong khi tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất thì ngược lại tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên tính toán mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi (chủ yếu là nguồn thu phí dịch vụ) và chi phí ngoài lãi (tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, chi phí tổn thất tín dụng,…).
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên được tính bằng công thức sau: Tỷ lệ thu nhập lãi Thu nhập lãi – Chi phí lãi = cận biên (NIM) Tài sản có sinh lãi Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi = cận biên Tài sản có sinh lãi Về tỷ lệ thu nhập trên cổ phiếu (EPS), EPS đo lường trực tiếp thu nhập của các cổ đông tính trên mỗi cổ phiếu hiện đang lưu hành, được tính bằng công thức sau: Tỷ lệ thu nhập trên Thu nhập sau thuế = cổ phiếu (EPS) Tổng số cổ phần thường đang lưu hành 123doc 7 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro hoạt động: Bên cạnh việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh, nâng cao khả năng tạo lợi nhuận, các ngân hàng thương mại quan tâm rất nhiều đến việc kiểm soát rủi ro trong hoạt động của mình. Trong các loại rủi ro mà ngân hàng có thể đối mặt, rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra nhất trong hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng là rủi ro ngân hàng không thu hồi được nợ (một phần hoặc toàn bộ) hoặc thu hồi được nhưng không đúng hạn do người vay không thực hiện đúng theo các thỏa thuận ban đầu.
Một số chỉ tiêu phổ biến trong việc đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng hiện nay là: - Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay; - Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay; - Tỷ lệ giữa các khoản xóa nợ ròng trên tổng dư nợ cho vay; - Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ cho vay. Bên cạnh rủi ro tín dụng, các ngân hàng cũng quan tâm nhiều đến các loại rủi ro khác như rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro phá sản,… Tương ứng với mỗi loại rủi ro sẽ có các hệ số để đánh giá khác nhau. Ngoài ra, khi phân tích hiệu quả của ngân hàng, các nhà quản trị còn sử dụng một số tỷ số khác như tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động, tỷ lệ vốn huy động trên vốn tự có,… 1. Phân tích CAMELS: Mô hình CAMELS là hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình ngân hàng của Mỹ.
Mô hình này chủ yếu dựa trên các yếu tố tài chính, thông qua thang điểm để đưa ra kết quả xếp hạng các ngân hàng. Phương pháp phân tích CAMELS được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng. An toàn được hiểu là khả năng của ngân hàng bù đắp được mọi chi phí và thực hiện được các nghĩa vụ của mình. Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa trên 6 yếu tố cơ bản được sử dụng để đánh giá hoạt động của một ngân hàng, đó là: Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy), Chất 123doc 8 lượng tài sản (Asset Quality), Quản lý (Management), Lợi nhuận (Earning), Thanh khoản (Liquidity) và Mức độ nhạy cảm thị trường (Sensitivity to Market risk).
Đo lường giá trị kinh tế tăng thêm (EVA): Giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) là một trong các thước đo kết quả hoạt động của doanh nghiệp. EVA đã được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động hay lựa chọn dự án đầu tư. Giá trị kinh tế tăng thêm là thước đo phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động trước lãi vay sau thuế và chi phí sử dụng vốn. Ưu điểm của EVA là có tính tới chi phí cơ hội của vốn - là chi phí cơ hội khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh này thay vì lĩnh vực kinh doanh khác, qua đó có thể xác định giá trị thực sự được tạo ra cho các nhà đầu tư, cổ đông trong một thời kỳ nhất định.
EVA có thể được tính theo công thức sau: EVA = NOPAT – (TC x WACC) Với EVA: Giá trị kinh tế tăng thêm NOPAT: Lợi nhuận hoạt động trước lãi vay và sau thuế TC: Tổng vốn đầu tư WACC: Chi phí sử dụng vốn bình quân Trong điều kiện các yếu tố khác tương tự nhau, ngân hàng nào có EVA cao hơn thường là sẽ tốt hơn so với các ngân hàng có EVA thấp hơn. Phân tích hiệu quả biên: Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), phương pháp hiệu quả biên tính toán chỉ số hiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng các giữa ngân hàng với ngân hàng hoạt động tốt nhất trên biên với biên được tính từ tập số liệu, cho phép tính toán hiệu quả chung của từng ngân hàng dựa trên hoạt động của ngân hàng. Phương pháp phân tích hiệu quả biên hiện nay được chia làm hai nhóm là phương pháp tiếp cận tham số và phương pháp tiếp cận phi tham số. Cách tiếp cận tham số: Phương pháp tiếp cận tham số dựa trên lý thuyết thống kê và kinh tế lượng để đánh giá.
Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), cách tiếp cận tham số đòi hỏi phải chỉ định một dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả và có chỉ định của phân phối 123doc 9 phi hiệu quả hoặc sai số ngẫu nhiên. Nếu chỉ định hàm sai thì các chỉ số hiệu quả sẽ bị ảnh hưởng ngược chiều. Phương pháp tiếp cận tham số được sử dụng phổ biến hiện nay phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA), phương pháp tiếp cận phân phối tự do (DFA). Cách tiếp cận phi tham số: Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), cách tiếp cận phi tham số không đòi hỏi phải các ràng buộc về hình dáng của đường biên hoạt động tốt nhất, không đòi hỏi các ràng buộc về phân phối của các nhân tố phi hiệu quả như cách tiếp cận tham số mà chỉ ràng buộc điểm hiệu quả nằm giữa 0 và 1 và giả định không có sai số ngẫu nhiên trong số liệu.
Phương pháp tiếp cận phi tham số được sử dụng phổ biến hiện nay là phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA). DEA là một kỹ thuật quy hoạch tuyến tính để đánh giá một ngân hàng hoạt động tương đối so với các ngân hàng khác trong mẫu. Kỹ thuật này tạo ra một tập hợp biên các ngân hàng hiệu quả và so sánh với các ngân hàng không hiệu quả để đo được điểm hiệu quả. Một ngân hàng hoạt động tốt nhất sẽ có điểm hiệu quả là 1, trong khi đó, điểm của các đơn vị không hiệu quả được tính bằng cách chiếu lên biên hiệu quả (Nguyễn Việt Hùng, 2008).
DEA hữu ích trong việc đánh giá hoạt động của ngân hàng này so với các các ngân hàng khác, từ đó các ngân hàng không hiệu quả có thể xác lập mục tiêu cải thiện hoạt động của mình. Nhìn chung, trong bốn phương pháp nêu trên thì phương pháp phân tích hệ số tài chính được sử dụng rộng rãi nhất trong phân tích hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại do tính phổ biến, đơn giản, dễ hiểu. Tuy nhiên, mỗi hệ số tài chính chỉ phản ánh một khía cạnh nhất định, do đó, không thể sử dụng phương pháp phân tích hệ số tài chính để đưa ra kết luật tổng quát về hoạt động của ngân hàng. Bên cạnh đó, phương pháp phân tích CAMELS và EVA cũng được nhiều đối tượng quan tâm, tuy nhiên, một số chỉ tiêu của CAMELS và một số chỉ tiêu để tính toán EVA khó lượng hóa được.