CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO MÔ HÌNH CAMELS 1. Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại Theo định nghĩa trong cuốn “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh Việt” trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh thì “Hiệu quả - efficiency” trong kinh tế được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”.Rose giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale thì về bản chất NHTM cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Như vậy hiệu quả có thể được xét trên các phương diện.
- Xét về mặt định tính, hiệu quả thể hiện ở những nỗ lực đóng góp của doanh nghiệp vào sự nghiệp phát triển kinh tế. - Xét vể mặt định lượng, hiệu quả là khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. - Xét về mặt thời gian, hiệu quả được tính vào một thời điểm nhất định, thông thường vào cuối mỗi chu kỳ. Tuy nhiên, hiệu quả không chỉ là lợi ích trước mắt mà còn là lợi ích lâu dài.
Hay nói cách khác là xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Sự lành mạnh của hệ thống NHTM quan hệ chặt chẽ với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế vì NHTM là tổ chức trung gian tài chính kết nối khu vực tiết 5 kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế. Do đó, sự biến động của nó sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến các ngành kinh tế quốc dân khác. - Xét về mặt không gian, hiệu quả của một NH được thể hiện ở vị thế của NH trên thị trường, mức độ quen thuộc của NH đối với khách hàng.
Có thể thấy quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tuỳ theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau. Trong nội dung của khóa luận này chỉ tiếp cận hiệu quả hoạt động của NHTM trong mối quan hệ tối ưu giữa kết quả kinh tế đạt được so với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó và xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Hệ thống NHTM đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, do đó hiệu quả hoạt động ngân hàng là một trong những vấn đề luôn được quan tâm. Các ngân hàng phải thường xuyên đối mặt với yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm củng cố tiềm lực tài chính và an toàn hoạt động trong nền kinh tế mở hiện nay.
Đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại theo mô hình CAMELS 1. Giới thiệu về mô hình CAMELS Mô hình CAMEL là phương pháp phân tích ngân hàng được xây dựng ở Mỹ vào ngày 13 tháng 11 năm 1979 bởi Ủy ban giám sát của Ngân hàng Thanh toán quốc tế, phương pháp này được coi là chuẩn mực đối với hầu hết các tổ chức trên toàn thế giới khi đánh giá hiệu quả, rủi ro của các NH nói riêng và các TCTD nói chung. Đây là một công cụ rất hữu ích trong việc đưa ra các dự đoán liệu NH có lành mạnh hay không và nó cho phép các nhà phân tích tài chính xác định giá trị của NH với mức độ tin cậy. CAMEL là chữ viết tắt bằng tiếng Anh của 5 yếu tố mà theo nhận định của cộng đồng ngân hàng thế giới, muốn duy trì được tính lành mạnh, ổn định và hiệu quả của một ngân hàng cần phải có 5 yếu tố này.
Đó là: - C (Capital Adequacy): Mức an toàn vốn 6 - A (Asset quality): Chất lượng tài sản - M (Management ability): Năng lực quản lý - E (Earning): Khả năng sinh lời - L (Liquidity): Khả năng thanh khoản Năm 1997, các yếu tố cấu thành của CAMEL được bổ sung thêm một nội dung nữa là mức độ nhạy cảm với thị trường của các ngân hàng (S – Sensitivity to market risk), do vậy ta có mô hình CAMELS như ngày nay. Ở Việt Nam hiện nay, Phương pháp xếp loại theo mô hình CAMEL đã được NHNN áp dụng trong Quy chế “Xếp loại các TCTD Việt Nam” ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ- NHNN ngày 12/03/2008 của Thống đốc NHNN. Việc tổng hợp xếp hạng được đánh giá dựa trên thang điểm từ 1 đến 5 theo mức độ cần giám sát tăng dần. Mức xếp hạng tổng hợp là kết quả của việc xếp hạng 6 yếu tố.
Xếp hạng 1 là mức xếp hạng cao nhất với ý nghĩa là TCTD có hệ thống tốt nhất, đảm bảo chất lượng quản lý rủi ro, gắn liền với một mức độ giám sát ít nhất. Xếp hạng 5 là mức xếp hạng xấu nhất, tức là TCTD này có hoạt động yếu kém, không đảm bảo khả năng quản lý rủi ro và đòi hỏi hoạt động giám sát cao nhất cho TCTD này. Mức xếp hạng 1 và 2 được coi là an toàn, các mức còn lại được coi là cần chú ý. Ý nghĩa của việc xếp hạng cho từng mức như sau.
Xếp hạng 1 – Ngân hàng thuộc nhóm này về cơ bản là có hoạt động mạnh và an toàn trên mọi khía cạnh, nhìn chung các hạng mục đều được xếp ở mức 1 hoặc 2. NH có thể đối phó tốt với những thay đổi về kinh tế và tài chính và có khả năng đối phó tốt hơn với những thay đổi thất thường về điều kiện kinh doanh so với những NH có chỉ số xếp hạng thấp hơn. Tuân thủ các quy định và pháp luật. Do đó, những NH này chưa cần phải giám sát.
Xếp hạng 2 – Các Ngân hàng thuộc nhóm này về cơ bản là có hoạt động khá an toàn và mạnh, tuy nhiên vẫn có một số nhược điểm nhưng có thể khắc phục được trong điều kiện kinh doanh bình thường. Với những NH được xếp hạng 2 nhìn 7 chung không hạng mục riêng rẽ nào được xếp thấp hơn mức 3. Những NH này thường ổn định và có khả năng đói phó với những biến động trong kinh doanh tương đối tốt. Khi có những thay đổi bất thường thì bản thân NH có khả năng tự điều chỉnh và hoạt động của NH vẫn duy trì ở mức chấp nhận được Xếp hạng 3 – Các Ngân hàng thuộc nhóm này bắt đầu đã có những khiếm khuyết về hoạt động và về tài chính ở mức độ tương đối nguy hiểm đến mức độ không đạt yêu cầu tuy nhiên nếu vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn thì việc đánh giá các hạng mục thấp hơn 4 là điều khó tránh khỏi.
Khi có những khiếm khuyết liên quan đến tình hình tài chính, những NH này có khuynh hướng bất lợi về các điều kiện kinh doanh và có thể trầm trọng hơn nếu không có biện pháp khắc phục hữu hiệu. Những Ngân hàng đặc biệt không tuân thủ các quy định và luật pháp sẽ có thể thuộc nhóm này. Nhìn chung những Ngân hàng này là mối quan tâm của thanh tra và cần sự giám sát chặt chẽ hơn mức bình thường để khắc phục những yếu kém. Xếp hạng 4 – Các Ngân hàng thuộc nhóm này có quá nhiều yếu kém nghiêm trọng về tài chính hoặc là cả những yếu kém về tài chính và những yếu tố khác đều không đạt yêu cầu.
Các vấn đề nghiêm trọng hoặc chủ yếu hoặc tình hình không lành mạnh và không an toàn có thể không giải quyết được. Trừ khi có những biện pháp hữu hiệu được thực hiện để khắc phục, những khiếm khuyết này có thể phát triển đến mức độ có thể làm suy yếu khả năng tồn tại trong tương lai và đe dọa đến các KH gửi tiền, các chủ nợ hoặc các cổ đông. Khả năng cao về phá sản đang hiện hữu tuy nhiên chưa xảy ra hoặc chưa được thông báo. Những NH thuộc nhóm này cần sự kiểm soát chặt chẽ và giám sát về tài chính cũng những kế hoạch để khắc phục.
Xếp hạng 5 – Những NH thuộc nhóm này là những NH có khả năng phá sản rất cao. Số lượng và mức độ yếu kém hoặc tình hình không lành mạnh và yếu kém ở mức độ khẩn cấp cần sự giúp đỡ kịp thời của các cổ đông hoặc các nguồn tài chính khác từ khu vực tư nhân hoặc nhà nước. Nếu thiếu các biện pháp khắc phục kịp thời và kiên quyết tình hình sẽ trở nên trầm trọng hơn ví dụ như phá sản hoặc mất khả 8 năng thanh toán với người gửi tiền chủ nợ và cổ đông. Những NH ở nhóm này cần những giải pháp cứu trợ khẩn cấp như hỗ trợ về vốn, sát nhập, mua lại… Việc xếp hạng cho từng cấu phần được tiến hành độc lập nhưng cũng cần xem xét mối quan hệ với các cấu phần khác.
Mức xếp hạng quá cao hoặc quá thấp cho một cấu phần có thể dẫn đến điều chỉnh tăng hoặc giảm xếp hạng cho các cấu phần khác. Nội dung mô hình CAMELS 1. Phân tích nguồn vốn (C- Capital Adequacy) Quy mô vốn tự có là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Tại Việt Nam, sự tăng trưởng vốn của ngân hàng luôn được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản trị ngân hàng trong các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch thực hiện.
An toàn về vốn là khi NHTM có đủ nguồn vốn để bù đắp những tổn thất không mong đợi đến từ rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, đồng thời đảm bảo tuân thủ những quy định của cơ quan quản lý đặt ra nhằm bảo vệ người gửi tiền, chủ nợ cũng như ổn định toàn bộ hệ thống ngân hàng. Một ngân hàng thường xuyên duy trì đầy đủ vốn; số vốn được bổ sung từ kết quả kinh doanh ngày một cao hơn là biểu hiện của sự ổn định, lành mạnh và hoạt động hiệu quả. Những ngân hàng thiếu vốn với giá trị ròng thấp sẽ dễ đổ vỡ khi gặp phải những rủi ro hoặc trước những biến động của môi trường kinh doanh.