Chương I, Điều 3 Luật BVMT năm 2014) - Các tác nhân gây ô nhiễm nước: Kim loại nặng (As, Pb, Cr, Sb, cd, Hg, Mo, Al, Cu, Zn,…), anion (CN-, F-, N03, Cl-,SO4), một số hóa chất độc (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, Dioxin), các sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, ký sinh trùng)… - Độ cứng của nước: Độ cứng của nước gây ra bởi sự có mặt của các muối Ca và Mg trong nước. Độ cứng của nước được gọi là tạm thời khi có mặt muối cacbonat hoặc bicacbonat Ca, Mg. Loại nước này khi đun sôi sẽ tạo ra kết tủa CaCO3 hoặc MgCO3. Độ vĩnh cửu của nước do các loại muối sunfua hoặc clorua Ca, Mg tạo ra Độ cứng của nước được xác định bằng phương pháp chuẩn độ hoặc tính toán theo hàm lượng Ca, Mg trong nước.
- Độ dẫn điện của nước: Là sự có mặt của các ion trong nước. Các ion này thường là muối của kim loại như NaCl, KCl, SO4-2, … - Độ pH: pH là độ axit hay độ chua của nước. Độ pH có ảnh hưởng tới điều kiện sống bình thường của các sinh vật nước. - Chỉ số DO: là lượng oxy hòa tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp Thai Nguyen University – TNU 10 của các sinh vật nước thường được tạo ra do sự hòa tan từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo.
- Chỉ số BOD: (Biochemical oxygen Demand – nhu cầu oxy sinh hóa) là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ. BOD có ý nghĩa biểu thị lượng các chất thải hữu cơ trong nước có thể bị phân hủy bằng các vi sinh vật. - Chỉ số COD: (Chemical Oxygen Demand – nhu cầu oxy hóa học) là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hóa học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ. - Nước bị ô nhiễm vi sinh vật: nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải các bệnh viện, nhà hàng, nhà khách,…Để đánh giá chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùng chỉ số coliform.
- Chất thải độc hại: là chất thải có thể được sinh ra do các hoạt động công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp. Các chất thải độc hải có thể là các chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất sệt. - Sự cố môi trường: là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng. - Chất gây ô nhiễm: là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm.
- Sức chịu tải của môi rường: là giới hạn cho phép mà môi trường có thể tiếp nhận và hấp thụ các chất gây ô nhiễm. - Quan trắc môi trường: là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường. Thai Nguyen University – TNU 11 - Thông tin về môi trường: Bao gồm số liệu, dữ liệu về các thành phần môi trường, về trự lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, về các tác động đối với môi trường, về chất thải, về mức độ môi trường bị ô nhiễm, suy thoái và thông tin về các vấn đề môi trường khác. Cơ sở thực tiễn 2.
Nguồn gốc phát sinh nước thải bệnh viện - Nước thải từ các phòng khoa, trong quá trình khám chữa bệnh: Dòng thải từ nước sàn, Lavabo của các khu xét nghiệm và X-quang, phòng cấp cứu, khu bào chế dược phẩm, phòng sản, phẫu thuật, phòng thủ thuật,… - Nước thải sinh hoạt của các cán bộ công nhân viên, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và khách vãn lai: các dòng thải từ nước sàn, lavabo và bể phốt của các khu điều trị, văn phòng, khu hành chính, nhà bếp, nhà ăn,… Nước thải từ 2 nguồn trên chứa các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, chất tẩy rửa, các hóa chất mang tính dược liệu và đặc biệt là các vi trùng gây bệnh. - Nước thải bề mặt như nước mưa chảy tràn cuốn theo rác, đất đá và các chất lơ lửng khác. Lượng nước thải theo quy mô giường bệnh Lượng nước sử dụng Lượng nước thải STT Quy mô giường bệnh (lit/người/ngày) (m3/ngày) 1 <100 700 70 2 200-300 700 100-200 3 300-500 600 200-300 4 500-700 600 300-450 5 >700 600 >500 (Nguồn: Xử lý nước thải - Trần Đức Hạ - NXB Xây Dựng) 2. Thành phần, tính chất nước thải bệnh viện - Đây là loại nước thải có chứa nhiều chất hữu cơ và vi trùng gây bệnh.
Thai Nguyen University – TNU 12 2. Thành phần nước thải bệnh viện Bảng 2. Thông số đặc trưng nước thải bệnh viện đầu vào và sau xử lý STT Chỉ tiêu Đơn vị Thông số QCVN 28:2010(cột B) 1 pH -- 4-10 6,5-8,5 2 COD mg/l 512 100 3 BOD₅ mg/l 362 50 4 SS mg/l 150 100 5 NO-3 mg/l 51 10 6 Phosphate mg/l 14 10 7 Clo dư mg/l 2 - 8 Coliform MPN/100ml 106 5000 (Nguồn: BTNMT) Thành phần chính gây ô niễm môi trường do nước thải bệnh viện gây ra là: - Các chất hữu cơ: BOD, COD. - Các chất rắn lơ lửng SS.
- Các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh: Salmonella, tụ cầu, liên cầu, virus đường tiêu hóa, bại liệt, các loại kí sinh trùng, amip, nấm… - Các mầm bệnh sinh học khác trong máu, mủ, dịch, đờm, phân của người bệnh. - Các loại hóa chất độc hại từ cơ thể và chế phẩm điều trị, thậm chí của chất phóng xạ. Theo kết quả nghiên cứu của các cơ quan chức năng, 80% nước thải từ bệnh viện là nước thải bình thường ( tương tự nước thải sinh hoạt) chỉ có 20% là những chất thải nguy hại bao gồm chất thải nhiễm khuẩn từ các bệnh nhân, các sản phẩm của máu, các mẫu chuẩn đoán bị hủy, hóa chất phát sinh từ trong quá trình giải phẫu, lọc máu, hút máu, bảo quản các mẫu xét nghiệm, khử khuẩn. Với 20% chất thải nguy hại này cũng đủ để các vi trùng gây bệnh Thai Nguyen University – TNU 13 lây lan ra môi trường xung quanh.
Đặc biệt, nếu các loại thuốc điều trị bệnh ung thư hoặc các sản phẩm chuyển hóa của chúng… không được xử lý đúng mà đã xả thải ra bên ngoài sẽ có khả năng gây quái thai, ung thư cho những người tiếp xúc với chúng. Thành phần nước thải bệnh viện theo chuyên khoa Chuyên pH BOD5 COD Tổng P Tổng N SS khoa Đa khoa 6,91 147,56 201,4 1,57 17,24 37,96 Lao 6,72 143,23 207,25 1,15 16,06 22,23 Phụ sản 7,21 167 221,90 0,99 13,19 51,25 (Nguồn: Viện Y học Lao động và Môi trường – Bộ Y tế) Hàm lượng chất ô nhiễm không có sự khác biệt lớn khi phân chia theo chuyên khoa. Tính chất đặc trưng của nước thải bệnh viện 2. Tính chất hóa lý Ngoài việc sử dụng các chất tẩy rửa ở xưởng giặt là của bệnh viện tạo nguy cơ làm xấu đi mức độ hoạt động của các công trình xử lý nước thải bệnh viện.
Điều này nảy sinh yêu cầu cao hơn đối với quá trình xử lý nước thải bệnh viện thiết kế và xây dựng hệ thống làm sạch cục bộ. Đặc trưng về vi trùng và vi rút Điểm đặc thù của nước thải bệnh viện là cho nó khác với nước thải sinh hoạt, khu dân cư là sự lan truyền rất mạnh các vi rút vi khuẩn gây bệnh. Đặc biệt nguy hiểm là những bệnh viện chuyên các bệnh truyền nhiễm và bệnh lao cũng như các bệnh viện đa khoa. Nước thải bệnh viện còn nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới bằng nước thải.
Các loại vi khuẩn gây bệnh thường xuất hiện trong nước thải Thai Nguyen University – TNU 14 bệnh viện. Như vậy nước thải bệnh viện khác nước sinh hoạt bởi những điểm sau: - Lượng chất ô nhiễm tính trên một giường bệnh lớn hơn 2-3 lần lượng chất bẩn gây ô nhiễm tính trên một đầu người. - Ở cùng một tiêu chuẩn sử dụng nước thì nước thải bệnh viện đặc hơn, tức là nồng độ chất bẩn cao hơn nhiều. Từ những yêu cầu đó chúng ta thấy rằng cần phải xếp nước thải thải bệnh viện vào loại nước thải riêng khác với nước thải sinh hoạt và yêu cầu xử lý cũng phải cao hơn.
Các loại vi khuẩn gây bệnh phân lập được trong nước thải bệnh viện STT Vi khuẩn gây bệnh Tỷ lệ phát hiện được(%) 1 Staphylococcus 82,54 2 Pseudomonas aeruginnosa 14,2 3 E.pneumoniae 12,91 6 Citrobacer 1,93 7 Các vi khuẩn khác 10,96 (Nguồn : Phùng Thị Thanh Tú – Phân tích thực trạng về chất thải Bệnh viện miền trung Việt Nam) 2. Tác động của nước thải bệnh viện đến môi trường Các chất hữu cơ có trong nước thải làm giảm lượng Oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng tới đời sống của động – thực vật thủy sinh. Song các chất hữu cơ trong nước thải dễ bị phân hủy sinh học, hàm lượng chất hữu cơ phân hủy được xác định gián tiếp thông qua nhu cầu Oxy sinh hóa (BOD) của nước thải. Các chất dinh dưỡng của N, P gây nên hiện tượng phú dưỡng nguồn tiếp nhận dòng thải, ảnh hưởng tới sinh vật sống trong môi trường thủy sinh.
Thai Nguyen University – TNU 15 Các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống và đường ống, máng dẫn. Nước thải Bệnh viện rất nguy hiểm vì chúng là nguồn chứa các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, tả, lị… làm ảnh hưởng đến sức khẻo cộng đồng. Nước thải bệnh viện gây ô nhiễm mạnh có chỉ số nồng độ chất rắn tổng cộng 1.200mg/l, trong đó chất rắn lơ lửng là 350mg/l; tổng lượng Cacbon hữu cơ 290mg/l, tổng photpho là 15mg/l và tổng Nito 85mg/l; lượng vi khuẩn coliform từ 108 đến 109 ( Tổ chức Môi trường Thế giới năm 2010). Hiện trạng công tác quản lý, xử lý nước thải bệnh viện tại Việt Nam và trên thế giới 2.
Trên thế giới Trên thế giới vấn đề ô nhiễm môi trường do nước thải bệnh viện đang là vấn để được sự quan tâm của nhiều tổ chức và Quốc gia. Hiện nay có nhiều công nghệ xử lý đang được áp dụng tại các cơ sở y tế trên Thế giới. Một số nước trên thế giới như: Nhật bản, Trung Quốc, Hy Lạp nước thải bệnh viện sau khi phát sinh được xử lý ngay tại chỗ.