Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Lịch sử hình thành và phát triển rừng đặc dụng Theo định nghĩa của IUCN (1994) đã khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của KBTTN: “KBTTN là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH), các tài nguyên thiên nhiên và di tích lịch sử, văn hóa đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác”. (IUCN 1994) Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19.
VQG Yellowstnoe là VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. VGQ này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shosshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng người này phải rời bỏ mảnh đất của họ. Nhiều KBTTN và VQG được thành lập sau đó các nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập và KBTTN và VQG và tiếp cận tài nguyên trong đó. Điều đó dẫn đến những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương (CĐĐP) và KBT và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được (IUCN 1994).
Hầu hết các KBT đều được thiết lập vì mục đích quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương. Dựa trên mô hình của Mỹ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác TNR. Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự ĐDSH thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn (Donovan D., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên 1997) Luan van 6 Trong vài thập kỷ qua, các KBTTN trên thế giới có xu hướng tăng cả về số lượng và diện tích. Hiện nay trên thế giới có 100.000 khu BTTN ( tạp chí KBTTN tập 14, số 3, năm 2014) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế gới.
Vườn Quốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các KBT loài và sinh cảnh. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà KBTTN có thể đem lại vấn còn là thách thức lớn tại rất nhiều nới trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tổ chức quản lý rừng đặc dụng Công ước ĐDSH (1992) xác định các khu BTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn ĐDSH “tại chỗ” tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của Công ước có các mục (a) (b) và (c) quy định rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống các KBTTN, xây dựng hướng dẫn lựa chọn, thành lập quản lý các KBTTN và quản lý các tài nguyên sinh học trong các KBTTN để đảm bảo bảo tồn và sự dụng bền vững (Công ước đa dạng sinh học 1992) Trong quá trình hình thành và phát triển các KBTTN, mỗi nước đều có cách tiếp cận riêng, không có các tiêu chuẩn hoặc thuật ngữ chung, điều này gây trở ngại cho việc chia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm về KBTTN trong phạm vi khu vực và toàn cầu. Những nỗ lực đầu tiên nhằm làm rõ những thuật ngữ và phân hạng các KBTTN được ghi nhận vào năm 1993.
Hệ thống phân hạng quốc tế KBTTN đầu tiên được IUCN xây dựng và công bố năm 1978, gọi là hệ thống phân hạng năm 1978. Hệ thống phân hạng 1978 của IUCN gồm có có 10 phân hạng. Hệ thống này đã được sử dụng tương đối rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới và trong các hoạt động quốc tế như làm cơ sở cho xây dựng “ Danh mục các KBTTN của liên hiệp quốc năm 1993”. Tuy nhiên, ngay sau đó, hệ thống phân hạng 1978 bộc lộ nhiều thiếu sót.
Năm 1984, IUCN đã tiến hành những bước đầu tiên xem xét lại và đề xuất cập nhật hệ Luan van 7 thống phân hạng này. Hệ thống phân hạng KBTTN quốc tế của IUCN hiện hành được công bố năm 1994, trên cơ sở cập nhật hệ thống phân hạng năm 1978. Các nghiên cứu về tài nguyên rừng đặc dụng Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn đa đạng sinh học ĐDSH theo hướng toàn cầu. Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động đến các hoạt động bảo tồn và động vật hoang dã.
Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây Nepal đã được thực hiện. Nghiên cứu khẳng định, 73% người dân địa phương sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn (Alice Sharp…1999) Ở Ấn Độ, nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ). Theo Gadgil và VP. Vartok năm 1976 trong tác phẩm: “Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn Độ” cho rằng: Người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các đám rừng từ 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây.
Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó được hình thành từ các xã hội chuyên về săn bắn và hái lượm. Việc lấy ra bất cử sản phẩm nào đều bị cấm kỵ. Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm (FAO, 1996). Một nghiên cứu về lâm nghiệp công đồng bên ngoài khu rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn.
Luan van 8 Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển đã trở thành vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây. Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển bền vững ở Rio De Janeiro, vấn đề này đã chính thức được công nhận. Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khác nào “Bắt cá ra khỏi nước” và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ. Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này ( Lê Sỹ Trung 2005) Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG, KBT trên thế giời, từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhiều dự án nghiên cứu, hội thảo quốc tế với sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã đề xuất những thay đổi trong chiến lược bảo tồn.
Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với cá hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rừng đặc dụng Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG khẳng định rằng, để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn ĐDSH với bảo tồn văn hóa của người dân địa phương. Ở VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ Luan van 9 hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý. Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền (Võ Quý và công sự 1999) Ở Thái Lan, một thử nghiệm của Dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua công tác: thực hiện tại KBT động vật hoang dã Phu Kheio, tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan.
Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ (Ngô Ngọc Tuyên 2007). Hệ thống quản lý khu bảo vệ trước đây đã nhấn mạnh các quyền sở hữu và kiểm soát rừng của Nhà nước mà không chú ý tới ảnh hưởng giữa con người và các nguồn tài nguyên, đã dẫn tới những thất bại vì tỉ lệ phá rừng hàng năm vẫn ở mức cao 2,6%. Một nghiên cứu tại vùng đệm của KBT động vật hoang dã Phu Kheio, Đông Bắc Thái Lan đã giới thiệu một cách tiếp cận mới để quản lý chúng trên cơ sở thu hút sự tham gia của người dân địa phương trong tiến trình. Kết quả thảo luận ở đây cũng khẳng định rằng, có một cơ hội để tạo ra một sự hiểu biết tốt hơn giữa người dân nông thôn về tầm quan trọng của trồng rừng và bảo tồn thiên nhiên sẽ dẫn đến một cách quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên trong tương lai ( Bink Man W.
1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh Srisaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp người dân nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng. Tuy nhiên đây là một minh họa rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996). và McGean, B (1993) trong báo cáo: “Liên minh cộng đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại VQG Dang Yai nằm ở đông bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan.