phần mở đầu, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, bố cục bài luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam giai đoạn 2020-2022 Chƣơng 3: Kiến nghị và giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam 3 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Chất lƣợng tín dụng Ngân hàng 1. Khái niệm về Chất lƣợng tín dụng Ngân hàng Chất lƣợng tín dụng là một khái niệm tổng hợp phản ánh sự phát triển hoạt động tín dụ g về mặt chất, là việc đảm bảo hiệu quả hoạt động tín dụng, nguồn thu từ các khoản vay bảo đảm bù đắp đƣợc chi phí, có lãi và bảo toàn đƣợc vốn, có thể thu hồi gốc và lãi cho vay đầy đủ và đúng hạn, kiểm soát đƣơc nợ quá ha và nợ xấu trên tổng dƣ nợ cho vay.
(Theo Chung, 2011) Khái niệm chất lƣợng tín dụng theo Hoài (2015) đƣợc xét trên 3 góc độ: Đối với khách hàng: Các khoản vay phát sinh phải phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng, bên cạnh đó cần có lãi suất kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục đơn giản, từ đó thu hút đƣợc nhiều khách hàng. Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Giải quyết tốt các quan hệ giữa tăng trƣởng tín dụng với tăng trƣởng kinh tế giúp gia tăng sản xuất và lƣu thông hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất. Đối với Ngân hàng thƣơng mại: Dựa trên nguồn lực của Ngân hàng mà tạo ra phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phù hợp cũng nhƣ đảm bảo đƣợc tính cạnh tranh trên thị trƣờng, đảm bảo các khoản vay đƣợc thu lại đúng thời hạn và tạo lãi. Khoản vay đƣợc hình thành khi có sự tham gia của Ngân hàng và khách hàng, vì vậy chất lƣợng tín dụng không những phụ thuộc vào chính bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vào chất lƣợng hoạt động của doanh nghiệp.
Khoản tín dụng đƣợc cho là chất lƣợng khi đáp ứng phù hợp với nhu cầu của khách hàng (hạn mức, thời hạn, lãi suất, thủ tục.), bên cạnh đó phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng. (Theo Hƣơng, 2008) 4 Theo Ngọc (2015), khái niệm chất lƣợng tín dụng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại: Khoản vay mang lại lợi ích kinh tế cho cả ngân hàng và khách hàng, tức là số tiền đƣợc tạo ra dựa trên vốn vay đƣa vào quá trình sản xuất kinh doanh đủ lớn để trang trải chi phí, trả đƣợc gốc và lãi cho ngân hàng và có lợi nhuận, góp phần vào sự tăng trƣởng chung của nền kinh tế thì đƣợc xem là một khoản tín dụng có chất lƣợng. Từ phía khách hàng: Chất lƣợng tín dụng từ phía khách hàng là mức độ thỏa mãn nhu cầu về quy mô vay, lãi suất, thời hạn,.của họ về khoản tín dụng. Từ phía ngân hàng: Trên góc độ xem xét từ phía ngân hàng, chất lƣợng tín dụng đƣợc hiểu là khả năng thu hồi vốn và mức độ sinh lời của ngân hàng từ hoạt động tín dụng.
Từ phía nền kinh tế: Khoản tín dụng chất lƣợng nhằm cung ứng kịp thời nguồn vốn nhàn rỗi cho các chủ thể kinh tế trong xã hội, và đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Nhà nƣớc đề ra, tạo thêm thặng dƣ tối đa từ các nguồn tiền nhàn rỗi. Vậy, khái niệm Chất lƣợng tín dụng đƣợc xét trên 3 góc độ: (Khái niệm tự rút ra từ các khái niệm trƣớc đó) Ngân hàng: Khả năng sinh lời thực tế của Ngân hàng trên mỗi đồng vốn cho khách hàng vay. Lời thực tế từ hoạt động cho vay của Ngân hàng bị ảnh hƣởng bởi rủi ro. Ám chỉ về khả năng thu hồi khoản nợ đúng hạn và có lãi.
Khách hàng: các khoản vay phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu của mỗi khách hàng xét trên các phƣơng diện: lãi suất, kỳ hạn, giải ngân, thu nợ. thông thƣờng khách hàng sẽ có sự so sánh giữa các Ngân hàng rồi lựa chọn Ngân hàng phù hợp với mình. Vô hình chung tạo nên sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng thƣơng mại. 5 Nền kinh tế: Khả năng tạo thêm tiền thực từ các nguồn tiền nhàn rỗi.
Tiền thực đây ám chỉ lƣợng tiền tăng thêm trong nền kinh tế đã trừ đi yếu tố lạm phát. Phản ánh qua lƣợng hàng hóa, công việc đƣợc tạo ra thêm trong nền kinh tế. Khóa luận đánh giá Chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam dựa trên góc nhìn của Ngân hàng. Các chỉ tiêu đánh giá Chất lƣợng tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại Có nhiều cách để đánh giá Chất lƣợng tín dụng, đứng trên quan điểm của các Ngân hàng Thƣơng mại về Chất lƣợng tín dụng, chỉ tiêu để đánh giá Chất lƣợng tín dụng nhìn chung liên quan đến 3 nhóm chỉ tiêu chính là: quy mô tín dụng, thu nhập từ hoạt động tín dụng, và rủi ro của tín dụng.
Các chỉ tiêu về quy mô tín dụng: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh lƣợng tiền mà Ngân hàng thƣơng mại cho khách hàng vay khi so sánh với các Ngân hàng thƣơng mại khác trong cùng một địa bàn hoạt động. Thông qua quy mô tín dụng có thể phần nào cho thấy vị thế của Ngân hàng trong thị trƣờng so với các Ngân hàng thƣơng mại khác. Nhóm chỉ tiêu này gồm Dƣ nợ tín dụng và Tốc độ tăng trƣởng dƣ nợ tín dụng. Từ báo cáo tài chính của các Ngân hàng thƣơng mại ta có thể thấy đƣợc quy mô tín dụng qua Dƣ nợ tín dụng của Ngân hàng đó.
Dƣ nợ tín dụng cho biết lƣợng tiền mà Ngân hàng đã cho khách hàng vay tại một thời điểm và đƣợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau nhƣ: theo kỳ hạn, theo ngành, theo mục đích vay,. Từ Dƣ nợ tín dụng (DNTD) của các năm ta có thể biết đƣợc Tốc độ tăng trƣởng dƣ nợ tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại, nó phần nào phản ánh khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng, tình hình hoạt động của Ngân hàng. Tính toán theo công thức sau: 6 (DNTD năm nay - DNTD năm trƣớc) Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng (%) = ----------------------------------------------- x 100% (1.1) DNTD năm trƣớc Trong công thức (1.1) , DNTD sử dụng trong khóa luận này là tổng số tiền mà Ngân hàng cho vay khách hàng. Một Ngân hàng có tốc độ tăng trƣởng dƣ nợ tín dụng tăng dần đều qua các năm, phần nào cho thấy đƣợc Ngân hàng đó đã kiểm soát chất lƣợng tín dụng của mình có tính tích cực.
Ngƣợc lại tốc độ tăng trƣởng dƣ nợ không tăng hoặc thậm chí âm cho thấy quy mô tín dụng của Ngân hàng đã bị thu hẹp lại. Các chỉ tiêu về thu nhập từ hoạt động cho vay: Thu nhập từ hoạt động cho vay, hay nói cách khác là thu nhập từ lãi (có thể xem trong bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh), dùng để chỉ các khoản thu từ lãi của các khoản mà Ngân hàng cho khách hàng vay. Để đánh giá tính hiệu quả (chất lƣợng) về thu nhập từ hoạt động cho vay của Ngân hàng thƣơng mại có thể xem xét 3 chỉ tiêu sau: Chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn cho hoạt động tín dụng: Tổng dƣ nợ Hiệu suất sử dụng vốn (%) = ------------------------------ (1.2) Tổng vốn huy động Trong công thức (1.2), tổng dƣ nợ là tổng số tiền mà Ngân hàng đã cho khách hàng vay trong một khoảng thời gian (1 năm), tổng vốn huy động là tổng số tiền mà Ngân hàng đang có từ các hoạt động nhƣ: tiền gửi của khách hàng, vốn cổ phần,. Hiệu suất sử dụng vốn càng lớn cho thấy tỷ trọng nguồn vốn của Ngân hàng dành cho việc cho vay khách hàng càng lớn.
Khi nguồn vốn đƣợc sử dụng cho hoạt động cho vay lớn, ngân hàng sẽ dễ tập trung vào chuyên môn hơn, đầu tƣ vào các 7 hoạt động khác thƣờng sẽ có rủi ro cao hơn vì Ngân hàng cần thời gian để thích ứng. Chỉ tiêu về vòng quay vốn tín dụng: Doanh số thu nợ Vòng quay vốn tín dụng = --------------------------- (1.3) Dƣ nợ bình quân Trong công thức (1.3), trong khóa luận này doanh số thu nợ là các khoản cho vay khách hàng đã đƣợc Ngân hàng thu hồi trong 1 khoảng thời gian (1 năm), dƣ nợ bình quân là tổng số tiền khách hàng vay tại Ngân hàng trong 1 khoảng thời gian (1 năm). Vòng quay vốn tín dụng càng lớn cho thấy việc thu hồi nợ của Ngân hàng càng hiệu quả. Chỉ tiêu này cũng cho thấy đƣợc tốc độ thu hồi vốn của Ngân hàng dành cho việc cho vay.
Chỉ tiêu về lợi nhuận: Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng = Thu nhập từ lãi – Chi phí* (1.4) Trong công thức (1.4), thu nhập từ lãi ám chỉ tiền lãi mà Ngân hàng thu từ các khoản cho vay khách hàng. Chi phí* bao gồm các khoản chi của Ngân hàng từ hoạt động Ngân hàng huy động vốn (phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi của khách hàng,.) và các chi phí khác liên quan đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Các chỉ tiêu về rủi ro tín dụng Rủi ro lớn có thể giúp Ngân hàng kiếm đƣợc lợi nhuận lớn hơn nhƣng cũng có thể khiến Ngân hàng mất vốn. Thông thƣờng các Ngân hàng thƣờng ƣu tiên không để mất vốn nên việc tối giản rủi ro tín dụng là cần thiết.
Trên tâm lý đó, các khoản 8 vay có rủi ro tín dụng thấp hơn sẽ đƣợc xem nhƣ là chất lƣợng hơn. Nhƣ một hệ quả, việc xem xét rủi ro tín dụng của một Ngân hàng có thể đƣợc phản ánh thông qua tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn của Ngân hàng đó. Theo thông tƣ số 11/2021/TT-NHNN ban hành ngày 30 tháng 07 năm 2021, tại Chƣơng II, mục 1, điều 10, quy định phân loại nợ thành 05 nhóm áp dụng cho công thức (1. Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, các khoản nợ hoàn trả đúng thời hạn hoặc hoàn trả trễ không quá 10 ngày.
Nhóm 2: Nợ cần chú ý, các khoản hoàn trả nợ trễ quá 10 ngày đến không quá 90 ngày. Nhóm 3: Nợ dƣới tiêu chuẩn, các khoản hoàn trả nợ trễ từ 91 ngày đến 180 ngày. Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, các khoản hoàn trả nợ trễ từ 181 ngày đến 360 ngày. Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, các khoản hoàn trả nợ trễ trên 360 ngày.