MỞ ĐẦU LVS Nhuệ - Đáy là một trong những lƣu vực sông quan trọng ở miền Bắc, có vị trí địa lý đặc biệt, đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển nền kinh tế của vùng đồng bằng sông Hồng và có ảnh hƣởng đến số dân cƣ lớn sinh sống quanh lƣu vực sông. Hệ thống sông Nhuệ - Đáy nằm ở hữu ngạn sông Hồng với lƣu vực chiếm diện tích tự nhiên 7. Mạng lƣới sông ngòi trong lƣu vực tƣơng đối phát triển, mật độ lƣới sông đạt 0,7 ÷ 1,2 km/km2. Lƣu vực có dạng dài, hình nan quạt gồm có các sông chính là sông Nhuệ và sông Đáy.
Ngoài ra, LVS Nhuệ - sông Đáy có nhiều phụ lƣu lớn chảy qua thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, tụ điểm dân cƣ, khu công nghiệp, khu chế xuất, dịch vụ, làng nghề. Đây là nguồn cung cấp nƣớc nƣớc ngọt quan trọng cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh. Hiện nay, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên LVS Nhuệ - Đáy đang diễn ra rất mạnh; cơ cấu kinh tế chủ yếu dựa trên công nghiệp, nông nghiệp. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức, thâm canh nông nghiệp có sử dụng nhiều phân hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật, hoạt động của các làng nghề, cũng nhƣ quá trình đô thị hóa quá nhanh hình thành các khu công nghiệp với nhiều ngành nghề khác nhau đã sinh ra một lƣợng chất thải khá lớn và đa dạng.
Theo số liệu thống kê chƣa đầy đủ, hàng ngày có khoảng 636.000 m3 nƣớc thải công nghiệp, 610.000 m3 nƣớc thải sinh hoạt, 150.000 m 3 nƣớc thải bệnh viện và hơn 2 triệu m3 nƣớc thải trồng trọt và chăn nuôi, 2618,5 tấn chất thải rắn sinh hoạt, 430,3 tấn chất thải rắn công nghiệp nguy hại, 973 tấn chất thải y tế… thải vào LVS Nhuệ - Đáy [3,31]. Phần lớn lƣợng chất thải này không đƣợc xử lý tại nguồn mà xả thải trực tiếp ra môi trƣờng. Hầu hết các nguồn thải đều đƣợc thải ra các sông trong lƣu vực [4]. Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho môi trƣờng nƣớc LVS Nhuệ - Đáy ngày càng suy giảm cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng.
Nồng độ một số chất ô nhiễm cao hơn hàng chục lần so với tiêu chuẩn cho phép, gây ảnh hƣởng không nhỏ đến sức khỏe ngƣời dân. Trƣớc tình hình trên, việc quan trắc môi trƣờng nƣớc LVS Nhuệ - Đáy ngày càng đƣợc chú trọng, mạng lƣới quan trắc đƣợc mở rộng với nhiều điểm quan trắc khác nhau, số liệu quan trắc đƣợc cập nhật thƣờng xuyên phản ánh hiện trạng môi 1 trƣờng nƣớc ở khu vực này. Tuy nhiên, phƣơng pháp truyền thống (sử dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn đã xây dựng sẵn) không phản ánh đƣợc diễn biến chất lƣợng nƣớc sông theo không gian và thời gian cũng nhƣ khó phân loại chất lƣợng nƣớc cho một mục đích cụ thể. Để khắc phục những hạn chế này, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lƣợng nƣớc LVS, cần phải đánh giá đƣợc xu thế diễn biến chất lƣợng nƣớc sông của khu vực.
Chỉ số chất lƣợng nƣớc là sự tích hợp số liệu mô tả đặc tính ô nhiễm của nhiều tham số trong một chỉ số duy nhất, là công cụ giúp đánh giá nhanh chất lƣợng nƣớc sông một cách tổng quát, từ đó là cơ sở trong việc đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trƣờng nƣớc, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lƣợng nƣớc LVS [5,7,9]. Các phƣơng pháp đánh giá chất lƣợng thủy vực 1. Phương pháp đánh giá theo tiêu chuẩn Đây là phƣơng pháp truyền thống đƣợc áp dụng phổ biến đánh giá chất lƣợng thủy vực thông qua việc so sánh giá trị các tham số chất lƣợng nƣớc với các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng sẵn. Tiêu chuẩn quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý, do một tổ chức công bố dƣới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng.
Ở Việt Nam, trƣớc giai đoạn 2009, việc đánh giá chất lƣợng nƣớc mặt thƣờng dựa vào tiêu chuẩn TCVN 5942:1995. Tuy nhiên trong quá trình triển khai, tiêu chuẩn này bộc lộ nhiều vấn đề bất cập: - Các quy định pháp luật về xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu chuẩn chƣa đầy đủ và đồng bộ, chƣa tƣơng thích với thông lệ quốc tế và kém hài hòa với hệ thống tiêu chuẩn của các nƣớc phát triển trong khu vực cũng nhƣ trên thế giới [32]. - Tổ chức hoạt động tiêu chuẩn hóa chƣa phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trƣờng, còn chịu ảnh hƣởng nặng nề của phƣơng thức tiếp cận từ trên xuống vốn là đặc thù của nền kinh tế tập trung. Việc xây dựng, ban hành tiêu chuẩn quốc gia chủ yếu phục vụ yêu cầu quản lý của các cơ quan nhà nƣớc mà chƣa thu hút đƣợc sự tham gia rộng rãi của các doanh nghiệp.
Chƣa có cơ chế xã hội hóa hoạt động xây dựng tiêu chuẩn để huy động đƣợc các nguồn lực xã hội [32]. - Hệ thống tiêu chuẩn 3 cấp (tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn cơ sở) mà không có hệ thống quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng dẫn đến nhiều bất cập trong quá trình áp dụng, nhiều tiêu chuẩn lạc hậu so với thực tiễn, mức độ hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế còn thấp [32]. Để khắc phục những hạn chế trên, hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật đƣợc xây dựng và đƣa vào áp dụng. Từ năm 2009, tiêu chuẩn chất lƣợng nƣớc TCVN 5942 đƣợc thay thế bởi QCVN 08 - 2008:2008/BTNMT.
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định về mức giới hạn của đặc tính chất lƣợng và đƣợc ban hành dƣới dạng văn bản để bắt buộc phải áp dụng. 3 Phƣơng pháp tiêu chuẩn cho phép đánh giá ngay đƣợc chất lƣợng nƣớc, thông số nào đạt hay không đạt tiêu chuẩn cho phép. Ở các thời điểm khác nhau và tùy vào mục đích sử dụng mà số lƣợng các thông số cần đánh giá cũng nhƣ các ngƣỡng tiêu chuẩn cho từng thông số là khác nhau. Tuy nhiên, phƣơng pháp này còn nhiều hạn chế trong việc trong việc biểu diễn chất lƣợng nƣớc tổng quát, khó phân vùng và phân loại chất lƣợng nƣớc sông, do đó khó khăn trong việc so sánh chất lƣợng nƣớc theo thời gian và không gian.
Bên cạnh đó còn gây khó khăn trong việc phân loại chất lƣợng nƣớc cho một mục đích cụ thể cũng nhƣ công tác theo dõi diễn biến chất lƣợng nƣớc, đánh giá hiệu quả đầu tƣ để bảo vệ nguồn nƣớc và kiểm soát ô nhiễm nƣớc. Phƣơng pháp truyền thống khó sử dụng phổ biến và thông tin cho cộng đồng, các cơ quan quản lý, nhà lãnh đạo để đề ra các quyết định phù hợp về bảo vệ và khai thác nguồn nƣớc. Phương pháp chỉ số chất lượng nước 1. Khái niệm chỉ số chất lượng nước Chỉ số chất lƣợng nƣớc (Water Quality Index – WQI) là một chỉ số tổ hợp đƣợc tính toán từ các thông số chất lƣợng nƣớc xác định thông qua một công thức toán học.
WQI dùng để mô tả định lƣợng về chất lƣợng và đƣợc biểu diễn qua một thang điểm [12]. WQI cung cấp thông tin dƣới dạng đơn giản và dễ hiểu cho các cơ quan quản lý tài nguyên nƣớc quyết định về chất lƣợng và khả năng sử dụng của một lƣu vực nƣớc nào đó [18] 1. Lịch sử phát triển chỉ số chất lượng nước Chỉ số Horton (1965) là chỉ số WQI đầu tiên đƣợc xây dựng trên thang số. Hiện nay, hầu hết các mô hình chỉ số chất lƣợng nƣớc đều đƣợc xây dựng thông qua quy trình 4 bƣớc nhƣ sau: Bước 1: Lựa chọn thông số Có rất nhiều thông số có thể thể hiện chất lƣợng nƣớc, sự lựa chọn các thông số khác nhau để tính toán WQI phụ thuộc vào mục đích sử dụng nguồn nƣớc và mục tiêu của WQI.
Các thông số đƣợc lựa chọn theo 5 nhóm chỉ thị sau: - Hàm lƣợng Oxy: DO; 4 - Phú dƣỡng: N-NH 4, N-NO3, Tổng N, P-PO 4, Tổng P, BOD5, COD, TOC; - Các khía cạnh sức khỏe: Tổng Coliform, Fecal Coliform, Dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật, các kim loại nặng; - Đặc tính vật lý: Nhiệt độ, pH, Màu sắc; - Chất rắn lơ lửng: Độ đục, TSS. Bước 2: Chuyển đổi các thông số về cùng một thang đo (tính toán chỉ số phụ) Các thông số thƣờng có đơn vị khác nhau và có các khoảng giá trị khác nhau, vì vậy để tập hợp đƣợc các thông số vào chỉ số WQI phải chuyển các thông số về cùng một thang đo. Bƣớc này sẽ tạo ra một chỉ số phụ cho mỗi thông số. Chỉ số phụ có thể đƣợc tạo ra bằng tỉ số giữa giá trị thông số và giá trị trong quy chuẩn.
Có nhiều thang đo có thể sử dụng: 0 ÷ 1, 0 ÷ 10, 0 ÷ 14, 0 ÷ 16, 0 ÷ 25, 0 ÷ 100, …[12]. Có rất nhiều phƣơng pháp chuyển đổi thông số nhƣng phƣơng pháp đƣờng cong tỉ lệ (rating curve) đƣợc sử dụng rộng rãi nhất. Đƣờng cong tỉ lệ là một hàm số dùng để tính toán WQI phụ từ giá trị thông số, đƣợc xây dựng từ các tiêu chuẩn về nƣớc mặt và các nghiên cứu về nồng độ các chất ô nhiễm trong nƣớc. Bước 3 : Trọng số Trọng số đƣợc đƣa ra khi ta cho rằng các thông số có tầm quan trọng khác nhau đối với chất lƣợng nƣớc.
Mỗi lƣu vực khác nhau có các đặc điểm khác nhau và có các trọng số khác nhau. Ví dụ cụ thể với DO, trong phƣơng pháp Delphi trọng số của DO là 0,17. Để phù hợp với điều kiện của Việt Nam, trong nghiên cứu của TS. Lê Trình DO đƣợc sử dụng với trọng số là 0,18.
Lựa chọn các thông số sao cho tổng trọng số của các thông số bằng 1. Bước 4 : Tính toán chỉ số WQI cuối cùng Các phƣơng pháp thƣờng đƣợc sử dụng để tính toán WQI cuối cùng từ các chỉ số phụ: trung bình cộng, trung bình nhân hoặc giá trị lớn nhất. Chỉ số chất lƣợng nƣớc của Horton là cơ sở cho việc phát triển mô hình chất lƣợng nƣớc sau này [12] 1. Ưu điểm của WQI trong đánh giá diễn biến chất lượng nước 5 Việc sử dụng WQI có thể khắc phục đƣợc các hạn chế trong cách đánh giá nghiên cứu diễn biến chất lƣợng nƣớc theo phƣơng pháp truyền thống.
Các ƣu điểm và hạn chế của phƣơng pháp này so với phƣơng pháp truyền thống nhƣ sau: Bảng 1.