CHƯƠNG 1. VÀI NÉT VỀ CÔNG NGHỆ 3G VÀ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CUNG CẤP CÁC DỊCH VỤ 3G TẠI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về công nghệ 3G 3G là thuật ngữ dùng để chỉ các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 (Third Generation). Mạng 3G (Third-generation technology) là thế hệ thứ ba của chuẩn công nghệ điện thoại di động, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh. 3G cung cấp cả hai hệ thống là chuyển mạch gói và chuyển mạch kênh.
Hệ thống 3G yêu cầu một mạng truy cập vô tuyến hoàn toàn khác so với hệ thống 2G hiện nay. Điểm mạnh của công nghệ này so với công nghệ 2G và 2.5G là cho phép truyền, nhận các dữ liệu, âm thanh, hình ảnh chất lượng cao cho cả thuê bao cố định và thuê bao đang di chuyển ở các tốc độ khác nhau. Với công nghệ 3G các nhà cung cấp có thể mang đến cho khách hàng các dịch vụ đa phương tiện như: âm nhạc chất lượng cao, hình ảnh video chất lượng và truyền hình số, Các dịch vụ định vị toàn cầu (GPS), E-mail, video theo luồng (video streaming), trò chơi nhiều người tham gia (High-ends games)… Thông thường có một sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm 3G và UMTS (Universal Mobile Telecommunications Systems), trên thực tế khái niệm mạng 3G là khái niệm chung, còn mạng 3G của châu Âu được gọi là UMTS. Quốc gia đầu tiên đưa mạng 3G vào sử dụng rộng rãi là Nhật Bản.
Vào năm 2001, NTT Docomo là công ty đầu tiên ra mắt phiên bản thương mại của mạng W- CDMA Năm 2003 dịch vụ 3G bắt đầu có mặt tại châu Âu. Tại châu Phi, mạng 3G được giới thiệu đầu tiên ở Marốc vào cuối tháng 3 năm 2007 bởi Công ty Wana[6]. Song song với châu Âu, Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU – International Telecommunications Union) cũng đã thành lập một nhóm nghiên cứu để nghiên cứu về các hệ thống thông tin di động thế hệ 3, nhóm nghiên cứu TG8/1. Nhóm nghiên cứu đặt tên cho hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 của mình là Hệ thống Thông tin Di động Mặt đất Tương lai (FPLMTS – Future Public Land Mobile Telecommunications System).
Sau này, nhóm nghiên cứu đổi tên hệ thống thông tin di động của mình thành Hệ thống Thông tin Di động Toàn cầu cho năm 2000 (IMT-2000 – International Mobile Telecommunications for the year 2000)[7]. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đương nhiên là các nhà phát triển UMTS (châu Âu) mong muốn ITU chấp nhận hệ thống chấp nhận toàn bộ những đề xuất của mình và sử dụng hệ thống UMTS làm cơ sở cho hệ thống IMT-2000. Tuy nhiên vấn đề không phải đơn giản như vậy, đã có tới 16 đề xuất cho hệ thống thông tin di động IMT-2000 (bao gồm 10 đề xuất cho các hệ thống mặt đất và 6 đề xuất cho các hệ thống vệ tinh). Dựa trên đặc điểm của các đề xuất, năm 1999, ITU đã phân các đề xuất thành 5 nhóm chính và xây dựng thành chuẩn IMT-2000.
Năm 2007, WiMAX được bổ sung vào IMT-2000[8]. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bảng 1- 1: Tổng quan 3G/IMT-2000 Băng thông Vùng sử dụng ITU IMT-2000 Tên thông dụng Mô tả dữ liệu chính Hầu hết trên Còn gọi là TDMA một sóng mang. Là TDMA Single-Carrie EDGE thế giới, trừ EDGE (UWT-136) tiêu chuẩn được phát triển từ các hệ r (IMT-SC) Evolution Nhật Bản và thống GSM/GPRS hiện có lên GSM 2+. Hàn Quốc Còn gọi là CDMA đa sóng mang.
Đây là Một vài quốc CDMA Multi-Carrier CDMA2000 EV-DO phiên bản 3G của hệ thống IS-95 (hiện gia ở Châu Mỹ (IMT-MC) nay gọi là cdmaOne). CDMA Direct Spread Đây thực chất là 2 tiêu chuẩn "họ hàng". W-CDMA Toàn cầu (IMT-DS) Chuẩn IMT-DS còn gọi là CDMA trải TD-CDMA phổ dãy trực tiếp, hay UTRA FDD hoặc Châu Âu WCDMA. Chuẩn IMT-TC còn gọi là UM HSPA CDMA TDD, hay UTRA TDD, nghĩa là CDMA TDD TS TD-SCDM hệ thống UTRA sử dụng phương pháp (IMT-TC) song công phân chia theo thời gian Trung Quốc A (Time-division duplex).
UTRA là từ viết tắt của UMTS Terrestrial Radio Access. FDMA/TDMA Đây là tiêu chuẩn cho các hệ thống thiết Châu Âu, Hoa DECT (IMT-FT) bị điện thoại số tầm ngắn ở châu Âu. Kỳ Đây là tiêu chuẩn IEEE 802.16 cho việc IP-OFDMA WiMAX (IEEE 802.16) kết nối Internet băng thông rộng không Toàn cầu dây ở khoảng cách lớn. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khảo sát tình hình cung cấp các dịch vụ 3G tại Việt Nam Hiện tại Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp 4 giấy phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ 3G trên phổ tần số 2,1GHz cho các doanh nghiệp là Mobifone, Viettel, VNPT (vinaphone) và liên danh EVN Telecom - Hanoi Telecom.
S-Fone không được cấp giấy phép 3G trên băng tần 2,1GHz nhưng S-Fone (là mạng sử dụng công nghệ CDMA) vẫn có thể triển khai một số dịch vụ 3G trên băng tần đã được cấp phép là 900 MHz. Tính đến thời điểm hiện tại, trong số 5 doanh nghiệp và liên danh được cấp giấy phép 3G đã có 4 doanh nghiệp chính thức cung cấp dịch vụ cho khách hàng là: - Vinaphone là nhà mạng đầu tiên triển khai cung cấp 3G ngày 12/10/2009. - Mobifone là nhà mạng thứ hai ra mắt dịch vụ 3G tại Việt Nam, MobiFone chính thức cung cấp dịch vụ từ ngày 15 tháng 12 năm 2009. - Viettel chính thức khai trương dịch vụ kể từ ngày 25/3/2010.
- Liên danh EVN Telecom và Hanoi Telecom thì mới chỉ có EVN Telecom triển khai cung cấp dịch vụ từ 08/6/2010. Hiện tại cơ bản các doanh nghiệp đã phủ sóng 3G đến phần lớn dân số của nước ta, tốc độ truy nhập dịch vụ của các mạng 3G tại Việt Nam đang áp dụng là chuẩn WCDMA (HSPA) với tốc độ đường xuống lên đến 7,2 Mb/s. Các dịch vụ 3G mà các doanh nghiệp hiện đang cung cấp cho khách hàng bao gồm: Video Call Đây được xem là một ứng dụng truyền thống về 3G, và được nhiều người dùng liên tưởng nhất khi nhắc tới chuẩn kết nối này. Video Call là dịch vụ đàm thoại video.
Thay vì gọi điện giọng nói thông thường, trên màn hình di động sẽ hiển thị hình ảnh video của người gọi, tuy nhiên, để sử dụng, cả điện thoại của người gọi và người nhận cần có camera thứ hai ở phía trước. Cả Mobifone, Vinaphone đều đưa ra gói dịch vụ này. Internet Mobile Đây là dịch vụ được cả Vinaphone và Mobifone ứng dụng. Khách hàng có thể truy cập vào 3G, đọc báo, xem video từ Internet, tải ảnh, video cũng như gửi nhận mail.
Dịch vụ được đông đảo người chọn lựa nhất tại Việt Nam hiện nay, 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chuan nhất là những khách hàng làm việc di động, luôn muốn cập nhật thông tin qua mạng nhanh. Mobile TV Những chiếc di động có xuất xứ từ Trung Quốc, hỗ trợ ăng ten bắt sóng TV tương tự, đang rất phổ biến. Ngoài ra, Nokia cũng từng ra mắt các model tại Việt Nam hỗ trợ truyền hình kỹ thuật số như N77, N92 và N96. Tuy nhiên, dịch vụ Mobile TV của cả ba nhà mạng tại Việt Nam lại khác biệt.
Dựa vào kết nối dữ liệu, người dùng có thể truy cập vào trang web, xem các kênh truyền hình ở chế độ trực tiếp. Bên cạnh đó, Mobile TV còn cung cấp các nội dung theo yêu cầu như xem video, phim, nhạc. Mobile Broadband Cả Vinaphone và Viettel đều đặt tên dịch vụ dùng SIM 3G làm đường mạng cho laptop thông qua USB HSPA/HSDPA là Mobile Broadband, trong khi tên của dịch vụ này Mobifone đặt là Fast Connect. Mobile Broadband thích hợp cho những người dùng di động, sử dụng Internet trên laptop tại các khu vực không có Internet.
Cổng thông tin 3G Tên của dịch vụ này Vinaphone đặt là 3G Portal, Mobifone là Wap Portal 3G, trong khi Viettel gọi bằng Websurf. Đây được xem là một kênh tin tức do nhà mạng cung cấp, cập nhật các báo điện tử và đưa lên di động, phù hợp với kích thước từng loại máy, hệ điều hành. Chi tiết các dịch vụ của 3 doanh nghiệp Mobifone, Viettel và vinaphone: Vinaphone - Video Call: Đàm thoại video - Mobile TV: Xem truyền hình - Mobile Broadband: Dùng USB model vào 3G - Internet Mobile: Lướt web - 3G Portal: Cổng thông tin - Mobile camera: Xem video các ngã tư ở Hà Nội Mobifone: - Video Call: Đàm thoại video - Mobile TV: Truyền hình di động - Mobile Broadband (Fast Connect): Dùng USB model vào 3G - Internet Mobile: Lướt web - Wap Portal 3G: Cổng thông tin Viettel: 5 (LUAN.chuan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chuan - Video Call: Đàm thoại video. - Mobile TV: Truyền hình di động - Mobile Broadband: Dùng USB model vào 3G - Websurf: Cổng thông tin.
- Mclip: là dịch vụ cho phép xem trực tuyến hoặc tải clip về máy điện thoại di động. - Vmail: là dịch vụ gửi và nhận email trên điện thoại di động dưới hình thức "Đẩy email về ứng dụng trên điện thoại di động" (hay còn gọi là Pushmail). - Mstore: là một kho ứng dụng dành cho điện thoại di động được cung cấp bởi Viettel. - Imuzik 3G: là dịch vụ âm nhạc xây dựng trên nền tảng 3G giúp khách hàng có thể nghe nhạc, xem video clip, tải nguyên bài hát về điện thoại.
- Gameonline: Là dịch vụ cung cấp game dành cho điện thoại di động, cho phép khách hàng Viettel có thể tương tác trực tiếp với máy chủ nội dung (Server) hoặc nhiều người chơi khác thông qua kết nối 3G (đạt chất lượng tối ưu) hoặc EDGE/GPRS. Còn đối với S-Fone, tuy không có giấy phép 3G nhưng với lợi thế sử dụng công nghệ CDMA thì doanh nghiệp này cũng phủ sóng dịch vụ 3G đến 37 tỉnh, thành trên cả nước, công nghệ sử dụng là CDMA2000-1x EV-DO và đến cuối năm 2010 sẽ nâng cấp công nghệ này từ Rev0 lên RevA/B để đảm bảo phát triển tốt các dịch vụ 3G và định hướng phát triển hội tụ 4G trong tương lai. Chất lượng dịch vụ mạng di động nói riêng và chất lượng mạng viễn thông nói chung có thể nhìn từ nhiều phía khác nhau (phía nhà cung cấp dịch vụ, phía người sử dụng) và theo các quan điểm khác nhau (kinh tế, hoặc kỹ thuật hoặc cả kinh tế và kỹ thuật) Để đảm bảo chất lượng các dịch vụ này, cũng có thể dùng các thông số xét về mặt lý thuyết (thông qua tính toán, mô phỏng) và cũng có thể dựa vào các thông số theo các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế (đo đạc). Trong phạm vu của luận văn này, chỉ xét theo quan điểm kỹ thuật và từ phía nhà cung cấp dịch vụ.chuan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.chuan CHƯƠNG 2.