Phần mở đầu gồm màn chào hỏi, kiểm tra tâm trạng, tổng kết tóm tắt tuần vừa qua, và đặt ra kế hoạch làm việc cho ngày hôm đó. Ở phần giữa, nhà trị liệu cùng thân chủ sẽ xem và thảo luận về bài tập về nhà, thảo luận các vấn đề đã đặt ra, và giao bai tập về nha mới. Phần kết thúc, nhà trị liệu sẽ tóm tắt lại những điểm chính trong phiên làm việc và lang nghe phản hồi của thân chủ. Thời gian danh cho mỗi phiên trị liệu cũng được đặt cố định trước khi bắt đầu làm việc, thông thường năm trong khoảng từ 30-60 phút cho một phiên trị liệu cá nhân mỗi tuần.
Ở trong nghiên cứu nay, thời gian tri liệu với thân chủ đã được hai bên thỏa thuận là I buôi mỗi tuân, mỗi buôi kéo dài 60 phút. 16 Có mục tiêu và định hướng cụ thể. Đề quá trình trị liệu diễn ra suôn sẻ và hiệu quả, các vấn đề của TC cần được thảo luận, phân tích và lên kế hoạch can thiệp một cách rõ ràng. Tương ứng với mỗi vấn đề, NTL sẽ tìm các phương pháp can thiệp phù hợp nhất để ứng phó với vấn đề đó.
Với mỗi phiên làm việc, TC va NTL cũng sẽ thỏa thuận trước một lịch trình cu thể, các chủ dé sẽ diễn ra và mục tiêu cần đạt được sau khi kết thúc. Điều này không chỉ tăng hiệu suất làm việc cho các phiên trị liệu, mà còn giúp TC dễ dàng thích ứng cũng như học hỏi dé trở nên chủ động hơn, và sau khi kết thúc đợt trị liệu thì có thé tự mình ứng phó mà không cần đến sự trợ giúp của NTL. Các kỹ thuật theo tiếp cận nhận thức - hành vi để can thiệp rỗi loạn lo âu Nhóm các kỹ thuật điều chỉnh nhận thức. Liệu pháp nhận thức - hành vi được xây dựng dựa trên mô hình của Beck trong đó cho rằng suy nghĩ, cảm xúc và hành vi có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Theo lý thuyết này, CBT hướng đến việc cải thiện các triệu chứng cảm xúc qua việc thay đổi những suy nghĩ và hành vi kém thích ứng. Nhóm các kỹ thuật điều chỉnh nhận thức bao gồm các kỹ thuật như xác định suy nghĩ và tư duy sai lệch, phân tích các bằng chứng ủng hộ và chống lại những suy nghĩ tự động, thách thức và thay thế những suy nghĩ kém thích ứng, thay đổi hành vi và cách giao tiếp với người khác theo những cách thích ứng hơn. Kỹ thuật này cũng bao gồm việc giáo dục tâm lý cho thân chủ về mô hình và mối quan hệ của nhận thức, hành vi và cảm xúc, các kiểu tư duy sai lệch (ví dụ: tư duy phân cực, hoặc là tất cả hoặc không có gì; chú ý có chọn lọc vào điều tiêu cực, loại bỏ điều tích cực, dự đoán trước, v. Bài tập về nhà thường được giao để bệnh nhân có cơ hội thực hành những kỹ năng này trong cuộc sống hàng ngày, cho phép họ nắm vững các kỹ thuật dé họ có thé áp dụng những gi đã học sau khi kết thúc can thiệp.
(Kaczkurkin, 2015) 17 Nhóm các kỹ năng thư giãn và điều chỉnh cảm xúc. Để kiểm soát các triệu chứng của rồi loạn tâm lý, can thiệp theo CBT cũng có thé bao gồm việc giáo dục tâm lý về các cơ chế tâm lý và dạy các kỹ năng thư giãn, điều chỉnh cảm xúc. Nhóm các kỹ năng này có thé bao gồm các kỹ năng tự nhận diện và theo dõi cảm xúc, giúp thân chủ dé dàng liên kết và hiểu các tinh huống hay suy nghĩ tiêu cực nào đang kích hoạt hoặc củng cô cảm xúc tiêu cực. Thân chủ có thé được hướng dẫn sử dụng các công cụ như Nhiệt kế đo cảm xúc, các mẫu Nhật ký theo dõi dé thực hiện kỹ năng này.
Ngoài ra, NTL cũng có thể hướng dẫn TC thực hành các kỹ năng thư giãn như hít thở sâu, thư giãn bằng tưởng tượng, thư giãn căng chùng cơ, những lời tự nhủ tích cực,. Các hành vi hoặc hoạt động thay thế thích ứng cũng có thể được khuyến khích hoặc để TC tự đề xuất (ví dụ: rời khỏi tình huống nguy co), băng cách xây dựng và ghi lại Kế hoạch an toàn về cảm xúc đề TC có thê đem theo và áp dụng trong các tình huống khác nhau (Rohde, P. Kỹ thuật phơi nhiễm được sử dụng dé làm giảm các phan ứng sợ hãi bệnh lý bang cách kích hoạt yếu tố gây sợ hãi, sau đó tạo ra những liên kết mới thay thế cho yếu tố kích hoạt đó, đồng thời tạo ra các bằng chứng mới chống lại niềm tin về nỗi sợ hoặc lo âu (ví dụ: nhip tim nhanh không dẫn đến đau tim, trung tâm mua sắm đông đúc không dẫn đến việc bị tấn công). Bằng cách đối mặt với kích thích hoặc phản ứng sợ hãi và nhận được thông tin điều chỉnh về ký ức sợ hãi, nỗi sợ hãi sẽ giảm bớt.
Phơi nhiễm có thể được thực hiện qua hình thức bao gồm phơi nhiễm bằng tưởng tượng, trải nghiệm thực tế hoặc qua kề chuyện. Hiệu quả của phương pháp này cũng đã được ghi nhận trong can thiệp rối loạn lo âu và hiện nay vẫn được nhiều nhà thực hành theo tiếp cận CBT sử dụng. (Kaczkurkin, 2015) Nhóm các kỹ năng xã hội. Một số kỹ năng xã hội có thê được xem xét để đưa vào mục tiêu can thiệp và tập huấn cho TC, đặc biệt với các TC gặp các vân đê vê môi quan hệ xã hội.
Những kỹ năng này bao gôm các phân cơ 18 bản của tương tác xã hội, như chào hỏi, lắng nghe, trò chuyện, kết thúc cuộc trò chuyện với mọi người. Cụ thé, thông qua đóng vai va thảo luận, TC sẽ tập luyện các kỹ năng giao tiếp hiệu quả (ví dụ: giao tiếp bằng mắt, đặt câu hỏi mở,. Ngoài ra, NTL cũng có thé xây dựng các nội dung can thiệp với một số kỹ năng trong giao tiếp khác như thể hiện sự cương quyết, thảo luận và thỏa hiệp, hướng dẫn TC lắng nghe và tóm tắt lại nội dung mà đối phương vừa trao đối, đặt ra những ranh giới và nhận diện những suy nghĩ tiêu cực đang cản trở quá trình giao tiếp hiệu quả. Các phương pháp đánh giá và can thiệp được sử dụng trong luận văn 3.
Các công cụ được sử dụng trong đánh giá Trong cuốn Giáo trình tâm lý học lâm sàng (2017) của PGS. TS Nguyễn Thị Minh Hằng và cộng sự, có rất nhiều công cụ có thể được sử dụng trong đánh giá tâm lý một ca lâm sang. Dua theo các mô tả và hướng dẫn đó, trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp đánh giá sau: Hỏi chuyện lâm sàng. Hỏi chuyện lâm sàng có thể được hiểu là một phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở của mối tương tác nghề nghiệp đặc biệt giữa NTL và TC nhằm làm rõ các đặc điểm nhân cách, biểu hiện nhận thức, cảm xúc hành vi cũng như các triệu chứng, các cơ chế tâm lý và cấu trúc rối loạn/vấn dé của TC dé hỗ trợ việc lập kế hoạch và đưa ra quyết định can thiệp phù hợp.
et al, 2017) Một số các kỹ thuật hỏi chuyện lâm sàng được sử dụng bao gồm: Đặt câu hỏi mở, phản hồi, nhắc lại, giải thích, gợi ý, tóm tắt. Qua quá trình hỏi chuyện lâm sàng, NTL không chỉ lắng nghe mà còn làm rõ các cơ chế tâm lý tiềm ân cũng như có thể đồng thời nâng đỡ, hỗ trợ tâm lý cho TC. Do đó, phương pháp này không chỉ có thé sử dụng trong đánh giá mà còn có thê sử dụng để trị liệu. Trắc nghiệm và thang đo.
Các trắc nghiệm và thang đo đã luôn là công cụ hữu hiệu đê đo lường và chuân hóa các triệu chứng mà thân chủ gặp 19 phải khi đối chiếu với bình điện dân số. Trong nghiên cứu này, học viên đã sử dụng các công cụ trắc nghiệm sau: e DASS 21. Thang do Depression Anxiety Stress Scales phiên bản 21 câu la mét thang do tu bao cao, nhằm do lường mức độ của các triệu chứng tram cam, lo âu va stress. Với mỗi câu, người tra lời chọn một dap an từ 0 - “không bao giờ” đến 3 - “Gần như mọi lúc”, ứng với mức độ đồng tình của mình về triệu chứng được mô tả trong mục đó.
Điểm tổng của DASS 21 sau khi đã cộng tat cả các mục được diễn giải trong bảng sau: Mức độ Lo âu Trầm cảm Sfress Không có 0-7 0-9 0-14 dNhẹ 8-9 10 - 13 15 - 18 Vừa 10 - 14 14 - 20 19-25 Nang 15-19 21-27 26 - 33 Rat nang > 20 > 28 > 34 e@ Generalised Anxiety Disorder Assessment (GAD-7). GAD-7 là một thang do tự báo cáo ngắn gọn gồm 7 mục. Với mỗi mục, người trả lời có thể lựa chọn một đáp án từ 0 - “không hề” đến 3 - “gần như hàng ngày”, tương ứng với biểu hiện của các triệu chứng tâm lý trong vòng 2 tuần gần nhất. Tổng điểm của GAD-7 sau khi đã cộng tat cả các câu trả lời có thê được diễn giải như sau: 20 10-14 điểm Lo âu trung bình Lo âu nghiêm trọng e Zung Anxiety Self-Assessment Scale (Zung SAS).
Tương tự như hai thang do trước đó, thang đo lo âu của Zung cũng là một thang do tự báo cáo, được xây dựng bởi giáo sư tâm thần học William W. Thang đo này gồm có 20 mục, ở mỗi mục người trả lời cũng chọn một đáp án từ 1 - “không có hoặc hiếm khi” đến 4 - “luôn luôn”; tương ứng với mức độ các triệu chứng trong vòng 2 tuần gần đây. Tổng điểm thu được sẽ nằm trong khoảng từ 20-80, từ tổng điểm ta tìm ra chỉ số lo âu đa được chuân hóa và có thé được diễn giải như trong bảng sau: giá mức độ cảm nhân sự căng thăng được phát triên vào năm 1983. Thang do này bao gôm 10 mục, nhăm mô tả các biêu hiện vê cảm xúc và suy nghĩ của người được đánh giá trong vòng | tháng gần nhất.
Các 21 câu trả lời cũng được đánh sô từ 0 - “không bao giờ” đên 4 - “Rât thường xuyên”, tương ứng với các mức độ thường xuyên của moi biêu hiện. Điểm số của thang đo PSS có thể được diễn giải như sau: Chỉ số căng thăng Căng thẳng mức độ thấp Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các kỹ thuật trị liệu sau đây, dựa theo mô tả và hướng dẫn của cuốn sách Cognitive Behavioral Therapy: Basic and Beyond (2011) (tam dich: Tri liệu nhận thức - hành vi: Từ can ban dén xa hon) cua tac gia Judith S. Beck: Nhận diện cảm xúc (Mood check).