phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về ANMT bền vững dƣới góc độ quản trị an ninh phi truyền thống. Chƣơng 2: Thực trạng ANMT trong các làng nghề truyền thống tại huyện Thạch Thất, Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp đảm bảo ANMT bền vững trong các làng nghề truyền thống huyện Thạch Thất, Hà Nội giai đoạn 2023-2030. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH MÔI TRƢỜNG BỀN VỮNG DƢỚI GÓC ĐỘ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG 1.
Nhận thức chung về an ninh phi truyền thống và an ninh môi trƣờng 1. Khái niệm chung về an ninh phi truyền thống 1. Khái niệm an ninh Theo Từ điển Tiếng Việt thì “An ninh là sự yên ổn về mặt chính trị, về trật tự xã hội”. An ninh theo nghĩa rộng là sự an toàn, ổn định chung về chính trị của một chế độ, một xã hội.
“An ninh”, “ANQG” là các khái niệm quan trọng trong Khoa học Luật, Khoa học Công an, Chính trị học và Lý luận quan hệ quốc tế hiện đại, cũng là những từ ngữ và khái niệm đƣợc sử dụng với tần số lớn trong chính sách đối nội, đối ngoại của các nƣớc hiện nay. An ninh là khái niệm phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và trong các chuyên ngành khoa học. Tại các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau thì an ninh và an toàn đƣợc dùng chung một từ an toàn, bình an. Nhƣ vậy, có thể hiểu “An ninh là sự tồn tại, an toàn, bình an, không có nỗi lo, rủi ro, mối nguy, sự cố hay tổn thất về ngƣời và của”.
Lịch sử đã cho thấy con ngƣời không thể có cuộc sống ổn định và phá triển bền vững nếu nhƣ không có an ninh và một quốc gia cũng không thể PTBV nếu không đảm bảo đƣợc an ninh cho con ngƣời và doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực đời sống, sản xuất và kinh doanh. Luật ANQG của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc Quốc hội khoá XI, kì họp thứ sáu thông qua ngày 3.2004 quy định “ANQG là sự ổn định, PTBV của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc”. ANQG theo quy định tại Luật ANQG 2004 có hai mặt cơ bản: 1) Sự ổn định và PTBV của chế độ và Nhà nƣớc; 2) Sự bất khả xâm phạm về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Hai yếu tố này có quan hệ hữu cơ với nhau, ảnh hƣởng, thậm chí quy định lẫn nhau; giải 9 quyết mặt này sẽ tăng cƣờng củng cố mặt kia và ngƣợc lại.
Bảo vệ ANQG là phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống lại mọi hoạt động xâm hại ANQG; là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nƣớc, các tổ chức xã hội và mọi công dân, trong đó Công an nhân dân và Quân đội nhân dân là những lực lƣợng nòng cốt. Khái niệm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Vào thời điểm Quốc hội thông qua Luật ANQG năm 2004, ANQG đƣợc quan niệm chủ yếu là ANTT gồm an ninh chính trị và an ninh quân sự. Tuy nhiên thế giới hiện đại đã cho thấy bên cạnh các vấn đề ANTT đã và đang xuất hiện các vấn đề ANPTT. Chính vì vậy Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 05/09/2019 của Bộ Chính trị về Chiến lƣợc bảo vệ ANQG đã đƣa ra một quan niệm mới về ANQG “ANQG là sự vững mạnh, trƣờng tồn của Đảng, sự ổn định, PTBV về mọi mặt của đất nƣớc, chế độ XHCN và Nhà nƣớc CHXHCN Việt Nam; là sự ổn định về chính trị, về biên giới, chủ quyền lãnh thổ quốc gia và an ninh, an toàn xã hội”.
Trong thế giới đƣơng đại, những nhận thức về an ninh cũng thay đổi nhanh chóng. Bên cạnh những quan niệm đã và đang đƣợc sử dụng xung quanh chủ đề này nhƣ: an ninh tập thể, an ninh chung, an ninh toàn diện., xuất hiện thuật ngữ ANPTT (non- traditional security). ANPTT đƣợc hiểu là sự an toàn, ổn định và PTBV cá nhân, con ngƣời, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài ngƣời trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập và biến đổi khí hậu (Hoàng Đình Phi, 2017). ANPTT là một loại hình an ninh mới do những yếu tố phi chính trị và phi quân sự gây ra, có ảnh hƣởng trực tiếp đến sự ổn định, phát triển và an ninh của mỗi quốc gia, cả khu vực và cả toàn cầu.
ANPTT và ANTT là hai mặt của khái niệm an ninh toàn diện. Vì vậy, ANPTT và ANTT cùng tác động đến xây dựng chiến lƣợc ANQG,. bảo đảm ổn định và phát triển của quốc gia. ANQG theo tƣ duy mới là tổng hòa của ANTT và ANPTT.
ANTT có cốt lõi là an ninh chính trị, an ninh quân sự, lấy Nhà nƣớc làm trung tâm của an ninh. Còn ANPTT có cốt lõi là an ninh xã hội, an ninh con ngƣời, lấy xã hội, doanh nghiệp, con ngƣời làm trung tâm của an ninh. ANPTT là việc bảo đảm an toàn, không có hiểm nguy cho cá nhân con ngƣời, quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại trƣớc các mối đe dọa có nguồn gốc phi quân sự nhƣ biến 10 đổi khí hậu, ô nhiễm môi trƣờng, khan hiếm nguồn lực, dịch bệnh lây lan nhanh, khủng hoảng tài chính, an ninh mạng, tội phạm nguy hiểm xuyên biên giới, chủ nghĩa khủng bố. Các nguy cơ, thách thức, mối đe dọa ANPTT thƣờng lan tỏa nhanh, ảnh hƣởng rộng mang tính khu vực hoặc toàn cầu, do tác động bởi mặt trái của kinh tế thị trƣờng, của toàn cầu hóa, của sử dụng thành tựu khoa học - công nghệ.
Về bản chất, ANPTT là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cƣơng, mọi ngƣời dân sống yên ổn và không bị đe dọa, uy hiếp bởi các nhân tố có quy mô toàn cầu, khu vực. ANPTT liên quan đến các yếu tố bạo lực phi quân sự đe dọa quốc gia, dân tộc. ANPTT là sự nối dài của ANTT trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Mục tiêu của ANTT là ổn định và PTBV của Nhà nƣớc, chế độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Còn mục tiêu của ANPTT là ổn định và PTBV xã hội (cộng đồng), doanh nghiệp, con ngƣời, Nếu nhƣ chủ thể đảm bảo ANTT chủ yếu là Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thì chủ thể bảo đảm ANPTT là các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.1 So sánh sự khác biệt giữa ANTT và ANPTT STT Nội ANTT ANPTT Điểm chung Điểm mới dung 1 Khái Là ANQG. Cách tiếp Là an ninh nhà nước, an Mối quan hệ Khái niệm niệm cận lấy nhà nước ninh doanh nghiệp và biện chứng mới ra đời cơ làm trung tâm ANCN. Các tiếp cận lấy khi hội nhập bản con người làm trung toàn cầu tâm 2 Mục Ổn định và PTBV của Ổn định và PTBV của Mối quan hệ Phát triển tiêu nhà nước, chế độ, nhà nước, con người biện chứng theo xu thế chính độc lập, chủ quyền, (cộng đồng) và doanh hội nhập thống nhất, lãnh thổ nghiệp toàn cầu 3 Chủ Nhà nước - Nhà nước Mối quan hệ Đổi mới thể - Con người/Cộng đồng biện chứng nhận thức 11 chính - Doanh nghiệp 4 Công - Quân đội -Sức mạnh và nguồn lực Mối quan hệ Thay đổi cụ - Công an Nhà nước. biện chứng nhận thức.
chính - Dân quân tự vệ - Sức mạnh, nguồn lực Phải chủ cộng đồng. động - Sức mạnh và nguồn lực doanh nghiệp 5 Tác Sự tồn tại của Đảng - Quốc tế (An ninh Mối quan hệ Tác động đa động cầm quyền và thể mạng…) biện chứng chiều, đa trực chế nhà nước do - Khu vực (Đói, dịch mức độ, đa tiếp Đảng cầm quyền bệnh…) cấp độ, đa quyết định - Nhà nước lĩnh vực, - Con người/cộng đồng xuyên biên - Doanh nghiệp giới Nguồn: Nguyễn Văn Hƣởng, Bùi Văn Nam, Hoàng Đình Phi (2015) Tóm lại, cùng với quá trình vận động và phát triển lịch sử kinh tế, chính trị và xã hội thì nội hàm khái niệm an ninh đã có sự thay đổi. Theo đó, việc đảm bảo an ninh nhà nƣớc phải gắn với công tác đảm bảo an ninh cho con ngƣời, cộng đồng và doanh nghiệp. Đồng thời, phải có cách tiếp cận lấy con ngƣời làm trung tâm.
Chính vì vậy, việc đảm bảo ANCN cũng chính là góp phần vào đảm bảo an ninh Nhà nƣớc và an ninh doanh nghiệp hay nói rộng ra là đảm bảo ANPTT trong bối cảnh mới hiện nay 1. Khái niệm an ninh môi trƣờng 1. Khái niệm môi trường Thuật ngữ môi trƣờng bắt nguồn từ một từ tiếng Pháp “Environia” có nghĩa là bao quanh. Nó đề cập đến cả môi trƣờng phi sinh học (vật chất hoặc không sống) và sinh học (sống).
Từ môi trƣờng có nghĩa là môi trƣờng xung quanh, trong đó các sinh vật sống. Môi trƣờng và sinh vật là hai thành phần năng động và phức tạp của tự nhiên. Môi trƣờng 12 quy định đời sống của các sinh vật trong đó có con ngƣời. Con ngƣời tƣơng tác với môi trƣờng mạnh mẽ hơn các sinh vật khác.
Theo Gupta (2018), môi trƣờng là tổng thể các điều kiện bao quanh chúng ta tại một thời điểm và không gian nhất định. Nó bao gồm các hệ thống tƣơng tác của các yếu tố vật lý, sinh học và văn hóa đƣợc liên kết với nhau cả về mặt cá nhân và tập thể. Môi trƣờng là tổng thể các điều kiện mà một sinh vật phải tồn tại hoặc duy trì quá trình sống của nó. Nó ảnh hƣởng đến sự tăng trƣởng và phát triển của các dạng sống.
Nói cách khác, môi trƣờng đề cập đến những môi trƣờng xung quanh cuộc sống từ mọi phía và ảnh hƣởng đến cuộc sống của họ nói chung. Nó bao gồm khí quyển, thủy quyển, thạch quyển và sinh quyển. Các thành phần chính của nó là đất, nƣớc, không khí, sinh vật và năng lƣợng mặt trời. Nó đã cung cấp cho chúng tôi tất cả các nguồn lực để có một cuộc sống thoải mái.
Theo đó, có thể hiểu môi trƣờng “bao gồm một tập hợp các tính chất của không gian sống của con ngƣời; không gian này đƣợc tạo thành từ các yếu tố tự nhiên và nhân tạo (yếu tố vật chất) và các yếu tố xã hội – nhân văn (yếu tố phi vật chất); các tính chất này chỉ nảy sinh khi con ngƣời sử dụng và làm biến đổi không gian sống, và chịu tác động của chính những biến đổi đó” (Nguyễn Đình Hòe, 2003). Theo Nguyễn Đình Hòe (2003), môi trƣờng có 5 chức năng cơ bản. - Cung cấp nơi cƣ trú cho con ngƣời để xây dựng các điểm dân cƣ.