CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI TRONG SẢN XUẤT TẠI LÀNG NGHỀ VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI TRONG SẢN XUẤT TẠI LÀNG NGHỀ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật quản lý chất thải trong sản xuất tại làng nghề 1. Khái niệm chất thải và quản lý chất thải trong sản xuất tại làng nghề Môi trường là một khái niệm có nội hàm rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo nghĩa rộng thì môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết duy trì cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.
Theo nghĩa hẹp thì môi trường bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người mà không xét tới tài nguyên thiên nhiên. Nhìn chung có thể hiểu môi trường là một tập hợp các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo có mối quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên. Trong lĩnh vực pháp lý môi trường được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, đó là những yếu tố, hoàn cảnh và tự nhiên bao quanh con người. Luật bảo vệ môi trường 2020 định nghĩa môi trường như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”[27].
Theo quy định này, môi trường được hiểu là một hệ thống các yếu tố tự nhiên nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo bao gồm những yếu tố không nhân tạo như khí quyển, đất đai, thực vật và động vật có liên quan trực tiếp đến con người, sinh vật. 10 Tuy nhiên, với sự phát triển xã hội như hiện nay, các hoạt động sản xuất đang diễn ra rất sôi nổi khiến cho lượng chất thải ngày càng tăng cao, đặc biệt là trong một số làng nghề truyền thống, nếu không được xử lý đúng cách, chúng có thể gây nên những hậu quả và thiệt hại rất lớn cho môi trường sống và con người. Chính vì lẽ đó, trong những năm qua, vấn đề quản lý chất thải trong sản xuất tại làng nghề luôn được xem là một trong những vấn đề quan trọng đối với pháp luật bảo vệ môi trường. Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam có rất nhiều cách hiểu khác nhau về chất thải.
Nhiều cơ quan, tổ chức, pháp luật của các quốc gia đã đưa ra khái niệm khác nhau về chất thải: Theo Từ điển Anh - Việt ngành mỏ và môi trường, “chất thải (waste) là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh ra nó không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ”[10]. Theo Công ước Basel 1989 Về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại và việc xử lý chúng đã đưa ra định nghĩa phế thải là “các chất hoặc đồ vật được thải bỏ nhằm mục đích tiêu hủy hoặc được yêu cầu tiêu hủy theo các quy định của luật pháp quốc gia”[26]. Khái niệm chất thải còn được đề cập trong pháp luật của khối liên kết chính trị - kinh tế Liên minh Châu Âu (EU) định nghĩa: “Chất thải có nghĩa là bất kỳ chất hoặc vật nào nằm trong danh mục phân loại tại Phụ lục I mà người giữ chúng thải bỏ hoặc có ý định thải bỏ”[15]. Theo định nghĩa này, một vật sẽ là chất thải khi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp vật chất đó không có ý định sử dụng hoặc không được tiếp tục sử dụng theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “Chất thải là rác thải và những đồ vật bị bỏ đi nói chung”[23]. Theo cách hiểu của khái niệm 11 này, chất thải bao gồm rác là những thứ không có hoặc không còn giá trị sử dụng, không có tác dụng nên không giữ lại hoặc bị vứt bỏ, tiêu hủy. Theo khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 định nghĩa: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Theo quy định tại Khoản 18 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020 thì khái niệm chất thải được hiểu là “các chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác của con người, bao gồm các chất thải ở các dạng rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác”.
Trong đó chất thải rắn được hiểu là chất thải ở thể rắn hoặc bùn thải. Chất thải cũng có chất thải nguy hại và chất thải thông thường. Các chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây nhiễm độc hoặc có đặc tính nguy hại khác, các chất thải này phải được xử lý đúng quy trình tránh rò rỉ gây nguy hại đến sức khỏe môi trường. Như vậy, theo các quan điểm trên thì chất thải có thể hiểu là chất có thể gây ô nhiễm môi trường; làm cho môi trường suy thoái, hoặc gây ra sự cố môi trường.
Nguồn gốc phát sinh ra chất thải là những gì mà chủ sở hữu chúng hiện tại không sử dụng và thải bỏ[31]. Chất thải (waste) là thuật ngữ bao gồm tất cả các loại vật liệu bị loại bỏ, không còn giá trị sử dụng, và có nguy cơ gây hại cho môi trường. Chất thải có thể là các loại rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, rác thải y tế và các loại chất thải độc hại khác như hóa chất, thuốc trừ sâu, chất bảo quản,… Ngoài ra, chất thải cũng có thể là sản phẩm phụ hoặc quá trình phụ thuộc vào ngành công nghiệp hoặc hoạt động nhất định. Đối với khái niệm làng nghề, làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa, theo nghĩa rộng nhất còn có nghĩa là nơi có dân cư đông đúc, hoạt động sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương, phong tục, tập quán riêng.
Làng nghề không chỉ được hiểu là làng chuyên nghề mà còn là nơi những người cùng nghề cùng 12 chung sống hợp quần thể, tạo việc làm. Nền tảng của các làng nghề được xây dựng trên nguyên tắc tập thể làm ăn, phát triển kinh tế và giữ gìn bản sắc dân tộc, khu vực, thể hiện những nét cá biệt của địa phương [40]. Tại Nghị định 52/2018/NĐ-CP Về phát triển ngành nghề nông thôn nêu ra định nghĩa: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị định này” [29]. Theo đó, có thể hiểu làng nghề mang những đặc tính như: là một hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống lâu đời, trong đó có một nghề truyền thống, có nhiều người dân trong làng nghề truyền thống đó, sản phẩm của nghề truyền thống mang tính đặc trưng.
Như vậy có thể hiểu “Làng nghề” với một khái niệm thường được dùng để mô tả các cụm dân cư tại nông thôn tham gia cùng hoạt động hành nghề, có thể chuyên sản xuất một loại hàng hóa cụ thể, mang tính nguyên tắc đậm nét truyền thống hoặc lịch sử, gắn liền với đặc điểm văn hoá của địa phương, mang tới sự đóng góp cho việc phát triển kinh tế, xã hội. Đối với khái niệm quản lý chất thải, Từ điển Sinh học Thế giới chỉ ra “Quản lý chất thải đề cập đến các kế hoạch khác nhau để quản lý và xử lý chất thải. Nó có thể bằng cách loại bỏ, tiêu hủy, xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc kiểm soát chất thải. Mục tiêu chính của quản lý chất thải là giảm lượng vật liệu không sử dụng được và ngăn ngừa các nguy cơ tiềm ẩn về sức khỏe và môi trường [43]”.
Tại Việt Nam, Luật bảo vệ môi trường 2014 giải thích “Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải” [28]. Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm về quản lý chất thải làng nghề như sau: Quản lý chất thải làng nghề là toàn bộ hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức cá nhân được Nhà nước trao quyền căn 13 cứ vào các quy định pháp luật bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật khác để tác động, điều chỉnh hành vi của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sản xuất kinh doanh, xả, thải các chất thải ở các làng nghề nhằm mục đích bảo vệ môi trường ở các làng nghề mà Nhà nước đã định ra. Đặc điểm của chất thải làng nghề Chất thải trong làng nghề sản xuất thường có các đặc điểm nổi bật sau: Đa dạng về thành phần: Chất thải từ các hoạt động làng nghề rất phong phú, bao gồm chất thải rắn (như kim loại, nhựa, thủy tinh), chất thải lỏng (nước thải từ quá trình rửa, ngâm, nhuộm) và chất thải khí (khói bụi, hơi độc). Thành phần chất thải phụ thuộc vào loại hình sản xuất; ví dụ, làng nghề tái chế kim loại thường sinh ra chất thải chứa kim loại nặng, trong khi làng nghề chế biến thực phẩm có chất thải hữu cơ.
Khối lượng lớn, nồng độ chất ô nhiễm cao: Do tập trung nhiều hộ sản xuất trên quy mô nhỏ và quy trình xử lý chưa đảm bảo, lượng chất thải phát sinh từ làng nghề có xu hướng cao, chứa nồng độ chất ô nhiễm lớn. Đặc biệt, chất thải từ làng nghề không được xử lý đúng cách có thể chứa hóa chất độc hại hoặc chất hữu cơ gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường đất, nước, và không khí. Tính phức tạp trong xử lý và quản lý: Chất thải từ làng nghề rất đa dạng, không chỉ về nguồn gốc mà còn về phương thức xử lý. Các làng nghề thường gặp khó khăn trong việc xử lý chất thải theo các tiêu chuẩn môi trường do hạn chế về kinh phí, cơ sở hạ tầng và công nghệ.
Phân loại chất thải làng nghề Phân loại chất thải làng nghề giúp xác định các phương pháp xử lý phù hợp và quản lý hiệu quả. Dưới đây là cách phân loại chính của chất thải trong sản xuất tại làng nghề: Theo trạng thái: 14 Chất thải rắn: Bao gồm các phế phẩm sản xuất, chất thải xây dựng, và các vật liệu không còn giá trị sử dụng.