Luận văn tốt nghiệp nhận xét đặc điểm xạ hình shunt gan phổi trong phase i xạ trị trong chọn lọc bằng hạt vi cầu phóng xạ y 90 ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp nhận xét đặc điểm xạ hình shunt gan phổi trong phase i xạ trị trong chọn lọc, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

60
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. CÁC VẤN ĐỀ VỀ UNG THƯ GAN

1.2. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP XẠ TRỊ TRONG CHỌN LỌC – SELECTIVE INTERNAL RADIOTHERAPY (SIRT)

1.3. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu

2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.3.3. Các bước tiến hành

2.3.4. Phương pháp thu thập số liệu

2.3.5. Phương pháp xử lí số liệu

2.3.6. Sai số và cách khắc phục

2.4. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.1. Đặc điểm chung về tuổi và giới tính của đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Lí do vào viện

3.1.3. Các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân

3.1.4. Phân chia giai đoạn theo BCLC

3.1.5. Đặc điểm về phương pháp điều trị trước đây của đối tượng nghiên cứu

3.1.6. Đặc điểm xét nghiệm cận lâm sàng

3.1.7. Đặc điểm khối u

3.2. MỐI LIÊN QUAN CỦA SHUNT GAN – PHỔI VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ

3.2.1. Đặc điểm chung của shunt gan - phổi của đối tượng nghiên cứu

3.2.2. Mối liên quan của shunt gan – phổi với tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

3.2.3. Mối liên quan của shunt gan – phổi với các yếu tố nguy cơ và các phương pháp điều trị trước đây

3.2.4. Mối liên quan của shunt gan phổi với đặc điểm khối u

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1.1. Về giới tính, tuổi

4.1.2. Các yếu tố nguy cơ

4.1.3. Đặc điểm lâm sàng trước điều trị

4.1.4. Đặc điểm cận lâm sàng

4.1.5. Đặc điểm khối u trên chẩn đoán hình ảnh (CLVT/MRI) trước điều trị của đối tượng nghiên cứu

4.1.6. Đặc điểm giai đoạn bệnh

4.1.7. Các phương pháp điều trị ung thư gan trước khi thực hiện SIRT

4.2. ĐẶC ĐIỂM SHUNT GAN – PHỔI TRONG PHASE I CỦA SIRT

4.2.1. Đặc điểm chung

4.2.2. Mối liên quan của shunt gan – phổi với tuổi và giới

4.2.3. Mối liên quan giữa giá trị shunt gan – phổi với tình trạng xơ gan

4.2.4. Mối liên quan của shunt gan – phổi với các phương pháp điều trị trước SIRT

4.2.5. Mối liên quan của shunt gan- phổi với đặc điểm khối u

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm xạ hình shunt gan phổi

Xạ hình shunt gan phổi là một kỹ thuật quan trọng trong việc đánh giá tình trạng bệnh nhân ung thư gan trước khi thực hiện xạ trị chọn lọc bằng hạt vi cầu phóng xạ Y-90. Kỹ thuật này giúp xác định tỷ lệ shunt giữa gan và phổi, từ đó đưa ra quyết định điều trị phù hợp. Theo nghiên cứu, shunt gan phổi có thể ảnh hưởng đến liều lượng Y-90 được sử dụng, với tỷ lệ shunt >20% thường dẫn đến việc giảm liều để tránh biến chứng nghiêm trọng. Việc đánh giá shunt gan phổi không chỉ có giá trị trong việc tính toán liều mà còn giúp giảm thiểu biến chứng lên phổi, một trong những biến chứng có thể gặp phải trong quá trình điều trị. Đặc điểm xạ hình shunt gan phổi ở bệnh nhân ung thư gan thường cho thấy sự phân bố không đồng đều của hạt vi cầu phóng xạ, điều này có thể dẫn đến những rủi ro trong điều trị.

1.1. Tác động của shunt gan phổi đến điều trị

Shunt gan phổi có thể gây ra những tác động nghiêm trọng đến hiệu quả điều trị ung thư gan. Khi tỷ lệ shunt cao, hạt vi cầu phóng xạ Y-90 có thể đi vào phổi, gây ra viêm phổi do tia xạ. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả điều trị mà còn có thể dẫn đến những biến chứng lâu dài cho bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng việc theo dõi và đánh giá shunt gan phổi là cần thiết để điều chỉnh liều lượng Y-90, nhằm đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Các bác sĩ cần phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích điều trị và nguy cơ biến chứng khi quyết định sử dụng phương pháp này.

1.2. Phương pháp đánh giá shunt gan phổi

Để đánh giá shunt gan phổi, các phương pháp hình ảnh như SPECT và CT thường được sử dụng. Những kỹ thuật này cho phép xác định chính xác tỷ lệ shunt và phân bố của hạt vi cầu phóng xạ trong cơ thể. SPECT, với khả năng phát hiện tổn thương ở mức độ tế bào, giúp bác sĩ có cái nhìn rõ ràng hơn về tình trạng shunt gan phổi. Việc sử dụng các phương pháp hình ảnh hiện đại không chỉ nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán mà còn giúp tối ưu hóa quy trình điều trị cho bệnh nhân ung thư gan.

II. Phương pháp xạ trị chọn lọc bằng hạt vi cầu phóng xạ Y 90

Xạ trị chọn lọc bằng hạt vi cầu phóng xạ Y-90 (SIRT) là một phương pháp điều trị mới và hiệu quả cho bệnh nhân ung thư gan không còn khả năng phẫu thuật. Phương pháp này sử dụng hạt vi cầu phóng xạ Y-90 để phát tia bức xạ β, tiêu diệt tế bào ung thư một cách chọn lọc. SIRT đã được áp dụng tại nhiều cơ sở y tế lớn ở Việt Nam từ năm 2013, mang lại hy vọng cho nhiều bệnh nhân. Tuy nhiên, việc thực hiện SIRT đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng và đánh giá chính xác tình trạng bệnh nhân, đặc biệt là tỷ lệ shunt gan phổi.

2.1. Chỉ định và chống chỉ định SIRT

SIRT được chỉ định cho bệnh nhân ung thư gan không còn khả năng phẫu thuật, hoặc những bệnh nhân từ chối phẫu thuật. Tuy nhiên, có những chống chỉ định rõ ràng, bao gồm tỷ lệ shunt gan phổi quá cao, có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng. Việc xác định chỉ định và chống chỉ định là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân trong quá trình điều trị.

2.2. Kết quả điều trị và theo dõi

Kết quả điều trị bằng SIRT thường được đánh giá qua sự giảm kích thước khối u và cải thiện triệu chứng lâm sàng. Theo dõi sau điều trị là cần thiết để phát hiện sớm các biến chứng có thể xảy ra, đặc biệt là viêm phổi do tia xạ. Các bác sĩ cần thực hiện các xét nghiệm định kỳ và hình ảnh để đánh giá tình trạng bệnh nhân, từ đó điều chỉnh phương pháp điều trị nếu cần thiết.

25/01/2025
Luận văn tốt nghiệp nhận xét đặc điểm xạ hình shunt gan phổi trong phase i xạ trị trong chọn lọc bằng hạt vi cầu phóng xạ y 90 ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. CÁC VẤN ĐỀ VỀ UNG THƯ GAN 1. Định nghĩa Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là ung thư xuất phát từ tế bào gan, chiếm tới 75-85% các trường hợp ung thư gan, là loại ung thư có tỉ lệ mắc nằm trong 6 loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới, nam mắc nhiều hơn nữ. Ở Việt Nam, theo thống kê năm 2018, đây là loại ung thư đứng hàng đầu về tỉ lệ mắc chung ở cả hai giới[2].

Dịch tễ ung thư biểu mô tế bào gan. a, Dịch tễ ung thư biểu mô tế bào gan trên thế giới Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) chiếm chủ yếu trong ung thư gan nguyên phát, đứng vị trí thứ 6 về tỉ lệ mắc và đứng thứ 3 về tỉ lệ tử vong do các bệnh ung thư trên toàn cầu, riêng đối với các nước phát triển, đây là bệnh có ảnh hưởng lớn[51]. Theo Globocan năm 2020 mỗi năm trên thế giới có thêm 905.677 ca mắc mới (chiếm 4,7%), số ca tử vong là 830180 (chiếm 8,3%), tỉ lệ mắc và tử vong ở nam giới gấp 2 đến 3 lần ở nữ giới, đặc biệt ở các nước thuộc khu vực Đông Á, Bắc Phi và Mông Cổ[51]. b, Dịch tễ ung thư biểu mô tế bào gan ở Việt Nam Việt Nam là nước nằm trong khu vực có tỉ lệ mắc bệnh cao, theo Globocan 2020, UTBMTBG đứng đầu tỉ lệ mắc ở Việt Nam và đứng thứ 3 trong khu vực Châu Á, với tỉ lệ mắc theo giới ở nam và nữ tương ứng lần lượt là 38,0/100.

Các yếu tố nguy cơ chính của nhiễm HCC vẫn là nhiễm virus viêm gan B (HBV), virus viêm gan C (HCV), rượu và tiếp đến là bệnh lý gan thoái hóa mỡ không do rượu (Non alcoholic fatty liver disease - NAFLD). Mặc dù vắc xin viêm gan B (VGB) được chính phủ cho phép đưa vào triển khai trong tiêm chủng mở rộng từ năm 1997, đến năm 2003 thì được triển khai trên toàn quốc cho trẻ <1 tuổi nhưng tỉ lệ vẫn còn thấp cụ thể trong giai đoạn 2010-2019, tỉ lệ tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh ở Việt Nam là 70,5% trong đó cao nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long với 78,0% và thấp nhất là 55,5% ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc[6]. Do vậy viêm gan virus B vẫn là nguyên nhân chính gây UTBMTBG. Ngoài ra, viêm gan do rượu với tỉ lệ mắc ngày càng cao cũng 2 Luan van là một trong những nguyên nhân đáng chú ý trong thời gian tới.

Điều này đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong công tác dự phòng cũng như khám sàng lọc chẩn đoán sớm đặc biệt là đối với những đối tượng nguy cơ cao nhằm phát hiện bệnh từ giai đoạn rất sớm để có thể điều trị sớm, giúp người bệnh có cuộc sống tốt hơn. Các phương pháp chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan a, Triệu chứng lâm sàng HCC ở giai đoạn sớm đa số có triệu chứng lâm sàng không rõ ràng, bệnh nhân thường đau bụng một cách mơ hồ, mệt mỏi, chán ăn, đầy bụng, khó tiêu nên dễ nhầm với các triệu chứng của bệnh gan mạn tính. Giai đoạn muộn bệnh biểu hiện rõ ràng hơn như: gầy sút nhanh, đau hạ sườn phải có thể sờ thấy khối u ở bụng nếu u to, gan to, một số trường hợp nghe có tiếng thổi khi khối u tăng sinh mạch nhiều, có thông động tĩnh mạch hoặc chèn ép mạch. Khi người bệnh đã có di căn, có thể sờ thấy hạch thường ở vùng hạ đòn phải.

Tràn dịch màng phổi khi di căn phổi, đau xương khi di căn xương[8]. b, Các dấu ấn sinh học Biomarket hay “dấu ấn sinh học” là những chất do khối u sinh ra hay do cơ thể phản ứng lại khối u sinh ra và có thể phát hiện thông qua các dịch sinh học và mô. Dấu ấn sinh học được sử dụng trong chẩn đoán, theo dõi và khám sàng lọc phát hiện sớm ung thư. Các dấu ấn sinh học được chẩn đoán trong ung thư biểu mô tế bào gan bao gồm hormone, kháng nguyên ung thư bào thai, các epitope carbonhydreate, các enzym, isoenzym, các sản phẩm của gen ung thư và đột biến gen.

Trong đó AFP, AFP - L3 và PIVKA II là các dấu ấn sinh học được sử dụng phổ biến hiện nay[16, 17]. c, Chẩn đoán hình ảnh - Siêu âm: được coi là kĩ thuật khá phổ biến, đơn giản và tin cậy trong sàng lọc ung thư gan. Siêu âm có thể phát hiện HCC ở giai đoạn bất kì với độ nhạy 84% nhưng với UTBMTBG giai đoạn sớm chỉ là 47%[53]. Siêu âm giúp đánh giá hình dạng, vị trí, số lượng, kích thước khối u gan, tình trạng bệnh lí gan nền, tình trạng dịch ổ bụng và các tổn thương khác kèm theo.

Hình ảnh khối u khu trú trong gan có thể là giảm âm, tăng âm hay hỗn hợp[8]. - Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) và cộng hưởng từ (CHT) 3 Luan van Hình ảnh điển hình có tiêm thuốc của khối u gan trong UTBMTBG là ngấm thuốc rất mạnh ở thì động mạch và thoái hóa nhanh ở thì tĩnh mạch. Khi chưa tiêm thuốc cản quang khối u có giảm tỉ trọng với nhu mô gan lành hoặc có tỉ trọng không đồng nhất do có hoại tử, vôi hóa chảy máu trong khối u. Độ nhạy và độ đặc hiệu của CLVT để phát hiện HCC lần lượt là 66,7% và 94,4%[43].

Chụp cộng hưởng từ có thể phát hiện những khối u có kích thước nhỏ, nhất là các khối u < 2cm, dựa vào sự khảo sát trên chuỗi xung, đặc biệt là MRI động và chuỗi xung khuếch tán rất nhạy trong chẩn đoán. - Chụp cắt lớp phát xạ đơn photon (SPECT) Kĩ thuật SPECT phát triển dựa trên cơ sở CT-Scanner. Nhưng trong SPECT không có chùm tia X nữa mà là các photon gamma của các ĐVPX đã được đưa vào cơ thể bệnh nhân dưới dạng các DCPX để đánh dấu đối tượng cần ghi hình[9]. Trong SPECT các tín hiệu cũng được ghi nhận như trong đầu dò của Planar Gamma Camera và đầu dò các kĩ thuật YHHN thông thường khác, nhưng trong SPECT đầu dò được quay xoắn với góc nhìn từ 180°, 360° (1/2 hay toàn vòng tròn cơ thể), được chia theo từng bậc với từng góc nhỏ (thông thường khoảng 3°).

Tuy mật độ chùm photon được phát ra khá lớn, nhưng đầu dò chỉ ghi nhận được từng photon riêng biệt nên được gọi là chụp cắt lớp đơn photon. Tia X hoặc photon trước khi đến được đầu dò bị các mô tạng của cơ thể nằm trên đường đi hấp thụ, do vậy năng lượng của chúng bị suy giảm tuyến tính. Cho máy quét trên cơ thể hoặc bệnh nhân quay thì góc quay và góc nhìn của chùm tia quyết định hướng, mật độ chùm tia đến đầu dò và giá trị hấp thụ của nó. SPECT có thể phát hiện các tổn thương ngay từ giai đoạn rất sớm (mức độ tế bào, mức độ phân tử) nhưng không phải trong mọi trường hợp đều có thể dễ dàng khẳng định đó là tổn thương lành tính hay ác tính.

Khi các dược chất phóng xạ vào cơ thể, chúng sẽ đi đến cơ quan cần khảo sát và cơ quan này sẽ trở thành nguồn phát phóng xạ và hình ảnh sẽ được hệ thống máy tính ghi lại. Hiện nay người ta chế tạo được các máy SPECT 1 đầu (detector), 2 đầu, 3 đầu. Các máy SPECT 2 và 3 đầu sẽ cho kết quả ghi hình nhanh hơn, đặc biệt khi cần khảo sát các quá trình động học xảy ra trong cơ thể. Ngoài ra, các máy SPECT vừa có thể tạo ra các lát cắt hình ảnh như CT, MRI, nó còn cho hình ảnh quét (Scan) toàn thân, đặc điểm này là đặc biệt có giá trị trong 4 Luan van phát hiện khối u và di căn ung thư.

Sự kết hợp giữa SPECT với chụp CT mang lại hiệu quả chẩn đoán cao giúp xác định tổn thương giai đoạn sớm với định khu giải phẫu rõ ràng. Máy SPECT bao gồm các bộ phận chính như trong hình 1. Bức xạ phát ra từ tinh thể phát quang được khuếch đại bởi ống nhân quang và mạch vi điện tử. Đầu dò phải có độ phân giải cao, độ nhạy lớn, khoảng cách tới tạng là ngắn nhất và được gắn với ống định hướng thích hợp.

o Khung máy (Gantry): có mô tơ đều khiển quay được góc 180° - 360° quay quanh bệnh nhân theo những góc 3°- 6°. o Hệ thống điện tử: Các tín hiệu được đưa vào mạch điện tử để lựa chọn, khuếch đại, ghi nhận sau đó hệ thống này chuyển đổi từ tín hiệu nhấp nháy sang tín hiệu số (digital) để lưu trữ. o Máy tính với các phần mềm thích hợp: trong đó có bộ nhớ các dữ liệu và bàn điều khiển và kĩ thuật hiệu chỉnh dựa trên thuật toán tin học (lọc nền, xoá bỏ lỗi, thu tín hiệu theo từng đơn vị thể tích) từ đó cho phép ghi hình cắt lớp. o Trạm hiển thị: cho thấy hình ảnh cụ thể và lưu giữ cho máy tính lọc và tái tạo hình ảnh.1: Cấu trúc của máy SPECT (Nguồn Mai Trọng Khoa (2012), Y học hạt nhân, Nhà xuất bản Y học Hà Nội) 5 Luan van - Chụp cắt lớp bức xạ positron (PET) và PET/CT, PET/MRI Kĩ thuật chụp PET thường sử dụng hoạt chất phóng xạ 18-F-2-fluoro-2- deoxy-D-glucose (FDG), một chất có cấu trúc tương tự như glucose để chẩn đoán nhiều loại ung thư khác nhau.

Cơ sở của phương pháp này là dựa vào động học của enzym (glucose-6-phosphatase), đối với khối UTBMTBG biệt hóa cao sẽ có nồng độ glucose-6-phosphatase cao do hiện tượng tăng chuyển hoá từ đó bắt FDG nhiều hơn còn với những khối ung thư biệt hóa kém thì ngược lại. Tuy nhiên, độ nhạy của FDG thấp trong việc phát hiện HCC, từ 40% đến 68%, chủ yếu là do hoạt tính của enzym glucose-6-phosphatse tương đối cao được tìm thấy trong HCC mức độ biệt hóa thấp[32]. Sự kết hợp PET/CT cho phép khai thác tối ưu các lợi thế của PET, giúp phát hiện các tổn thương di căn sớm ngoài gan so với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác[9]. Với ưu điểm đánh giá được đặc điểm chuyển hóa của tổ chức u (xảy ra trước cả khi có thay đổi về hình thái), cho nên PET/CT là phương pháp rất có giá trị trong theo dõi và đánh giá đáp ứng điều trị.

Tương tự như PET/CT, PET/MRI là sự kết hợp giữa ưu điểm của chụp cộng hưởng từ (MRI), bao gồm tăng độ tương phản mô mềm, nhiều chuỗi, không tiếp xúc với bức xạ ion hóa, và sử dụng chất tương phản đặc hiệu cho MRI, kết hợp với ưu điểm của PET.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nhận xét về đặc điểm xạ hình shunt gan phổi trong xạ trị chọn lọc bằng hạt vi cầu phóng xạ Y-90 ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan" của tác giả Vũ Thị Bích Loan, dưới sự hướng dẫn của TS. Mai Trọng Khoa và ThS. Bùi Quang Lộc, trình bày những đặc điểm quan trọng của xạ hình shunt gan - phổi trong quá trình điều trị ung thư gan bằng phương pháp xạ trị chọn lọc. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của hạt vi cầu phóng xạ Y-90 mà còn giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị và chăm sóc bệnh nhân trong lĩnh vực y tế, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (2020-2021), nơi cung cấp thông tin về quy trình chăm sóc bệnh nhân ung thư, hay Nghiên Cứu Về Sử Dụng Thuốc Ung Thư Tại Bệnh Viện Ung Bướu Hà Nội, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc sử dụng thuốc trong điều trị ung thư. Cuối cùng, bài viết Thực trạng chăm sóc vết thương sau mổ của điều dưỡng tại khoa ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020 cũng sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích về chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau trong điều trị và chăm sóc sức khỏe.