Luận văn: Nghiên cứu & Xây dựng cụm cảm biến cảnh báo sạt lở đất
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích nghiên cứu và xây dựng cụm cảm biến sử dụng cho hệ thống cảnh báo sạt lở đất, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi
Trường đại học
Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà NộiChuyên ngành
Công nghệ Điện tử - Viễn thôngNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Luận văn thạc sĩPhí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Tổng quan về Sạt lở đất Cụm cảm biến cảnh báo 55 ký tự
Sạt lở đất là một hiểm họa tự nhiên gây ra nhiều thiệt hại về người và của trên toàn thế giới. Các quốc gia như Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Nhật Bản và Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ này. Nguyên nhân gây sạt lở đất rất đa dạng, bao gồm cấu trúc địa chất, địa hình, phong hóa, tác động của nước mưa, và hoạt động của con người. Để giảm thiểu rủi ro, các nghiên cứu và hệ thống cảnh báo sớm đã được phát triển. Trong đó, hệ thống sử dụng các cảm biến đo độ dịch chuyển, độ ẩm đất và các thông số thời tiết là một giải pháp hiệu quả. Mạng cảm biến không dây hỗ trợ thu thập và truyền dữ liệu liên tục, cung cấp thông tin cần thiết để đưa ra cảnh báo kịp thời. Hệ thống bao gồm các nút cảm biến (hộp thiết bị cảm biến), gateway và trạm cơ sở. Ở mỗi hộp thiết bị cảm biến tại chỗ hệ thống triển khai bảng thu nhận dữ liệu để nối thiết bị cảm biến bên ngoài với hộp thiết bị cảm biến vô tuyến. Trong công việc này, vài thiết bị cảm biến bên ngoài bao gồm cảm biến đo độ ẩm đất, thiết bị cảm biến gia tốc và cảm biến nhiệt độ đã được cài đặt để thu thập dữ liệu tương ứng có thể được dùng để phân tích thêm. Mỗi hộp thiết bị cảm biến bao gồm thiết bị cảm biến bên ngoài, kiểm soát micro và đơn vị đo tần số vô tuyến. Quy trình đo đạt cẩn thận được thực hiện để đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu.
1.1. Mạng cảm biến không dây WSN trong cảnh báo sạt lở
Việc sử dụng mạng cảm biến không dây (WSN) cho phát hiện sạt lở cho phép triển khai hệ thống trên quy mô lớn, yêu cầu bảo trì thấp, có khả năng mở rộng và thích ứng cao. Mặc dù WSN có những hạn chế về bộ nhớ, nguồn điện và băng thông, nhưng khả năng làm việc trong môi trường khắc nghiệt khiến nó trở thành công nghệ lý tưởng để giám sát thời gian thực. Việc cảnh báo sạt lở thường được chia thành hai loại: dài hạn và tức thời. Cảnh báo dài hạn sử dụng bản đồ GIS và GPS độ chính xác cao để theo dõi sạt lở theo năm. Cảnh báo tức thời sử dụng các cảm biến để nhận diện dấu hiệu sạt lở trước khi sự cố xảy ra, trong đó các cảm biến quán tính, đo mưa và độ ẩm là cần thiết. Sự phát triển của công nghệ vi cơ điện tử (MEMS) đã tạo ra các cảm biến chính xác, giá rẻ và nhỏ gọn, thuận lợi cho việc triển khai mạng cảm biến diện rộng.
1.2. Cấu trúc cơ bản của mạng cảm biến cảnh báo sạt lở
Mạng cảm biến không dây bao gồm số lượng lớn các nút được triển khai dày đặc bên trong hoặc gần đối tượng cần thu thập thông tin. Vị trí cảm biến không cần định trước, cho phép triển khai ngẫu nhiên ở các khu vực khó tiếp cận hoặc nguy hiểm. Khả năng tự tổ chức mạng và cộng tác làm việc là những đặc trưng cơ bản của mạng này. Truyền thông đa liên kết được ưu tiên để giảm công suất tiêu thụ và cải thiện hiệu quả truyền tín hiệu khi truyền khoảng cách xa. Các nút cảm biến thu thập thông số, định tuyến số liệu về bộ thu nhận (Sink) để chuyển tới người dùng. Số liệu được định tuyến theo cấu trúc đa liên kết không có cơ sở hạ tầng nền tảng, tức là không có các trạm thu phát gốc hay trung tâm điều khiển. Bộ thu nhận có thể liên lạc trực tiếp với trạm điều hành của người dùng hoặc gián tiếp qua Internet hoặc vệ tinh. Kiến trúc giao thức áp dụng cho mạng WSN bao gồm các lớp và mặt phẳng quản lý để các nút mạng có thể làm việc hiệu quả, định tuyến dữ liệu và chia sẻ tài nguyên. Các lớp bao gồm lớp vật lý, lớp liên kết số liệu, lớp mạng, lớp truyền tải và lớp ứng dụng. Các mặt phẳng quản lý bao gồm mặt phẳng quản lý công suất, mặt phẳng quản lý di chuyển và mặt phẳng quản lý nhiệm vụ.
II. Cách thiết kế Cụm cảm biến cảnh báo sạt lở đất 58 ký tự
Sơ đồ khối của hệ thống cảnh báo sạt lở đất bao gồm các cảm biến nhiệt độ, độ ẩm và gia tốc, khối vi xử lý (Atmega328), giao thức XBEE và pin Libelium. Các cảm biến thu thập dữ liệu và gửi tới trung tâm để xử lý và đưa ra cảnh báo. Cảm biến MEMS được sử dụng để đạt độ chính xác cao và cấu hình nhỏ gọn. Khối vi xử lý thu nhận, xử lý và chuyển đổi dữ liệu từ các cảm biến thông qua bộ chuyển đổi ADC và DAC. Giao thức XBEE kết nối bộ vi xử lý với ăng-ten để truyền dữ liệu. Pin Libelium cung cấp nguồn nuôi cho các thành phần của hệ thống. Hệ thống sử dụng các cảm biến nhiệt độ LM35, cảm biến gia tốc ADXL335, cảm biến độ ẩm 6440 và giao thức XBEE để giám sát và cảnh báo sạt lở đất. Các nút mạng WSN phát hiện sạt lở đất liên kết với nhau thông qua sóng RF, mỗi nút bao gồm các chức năng cảm nhận, thu thập, xử lý và truyền dữ liệu. Các nút chứa các cảm biến, bộ vi xử lý và bộ thu phát để thu thập và truyền dữ liệu đến trạm cơ sở.
2.1. Các loại cảm biến chính trong hệ thống cảnh báo sạt lở
Cảm biến nhiệt độ LM35 là cảm biến tương tự được sử dụng để đo nhiệt độ thời gian thực với độ chính xác cao và kích thước nhỏ. Nó xuất tín hiệu điện tỉ lệ tuyến tính với nhiệt độ. Cảm biến gia tốc ADXL335 đo gia tốc thông qua công nghệ MEMS, cung cấp tín hiệu điện áp tương tự tỉ lệ với giá trị gia tốc đo được. Cảm biến này có khả năng đo giá trị dương và âm đến ±18 g và có thể đo độ nghiêng, chuyển động hoặc rung động. Cảm biến độ ẩm 6440 sử dụng phương pháp đo giá trị điện trở để đo độ ẩm của đất. Khi sử dụng cảm biến này giá trị điện trở từ thiết bị cảm biến sẽ được chuyển về bộ vi xử lý và được chuyển đổi thành đại lượng đo khí áp centibar của lượng nước trong đất với dãy từ 0 đến 200 centibars. Các thông số chính của mỗi cảm biến được cung cấp để đảm bảo hiệu suất và độ tin cậy của hệ thống.
2.2. Các thiết bị hỗ trợ trong hệ thống cảnh báo
XCTU là một ứng dụng đa nền tảng miễn phí cho phép các nhà phát triển tương tác với các modul Digi RF thông qua giao diện đồ họa đơn giản. Nó cung cấp các công cụ để thiết lập cấu hình và kiểm tra XBEE modul RF, bao gồm xem mạng đồ họa và xây dựng các frame XBEE API. Waspmote là một bộ được cấu trúc theo modul, có thể thay đổi và mở rộng tùy theo nhu cầu của các ứng dụng. Modul tích hợp trong Waspmote bao gồm ZigBee/802.4GHz, GSM/GPRS, 3G/GPRS, GPS, sensor modules và modul bộ nhớ. Kiến trúc của Waspmote dựa trên vi điều khiển Atmel ATmega và sử dụng bộ dao động thạch anh hoạt động ở tần số 14,7456 MHz.
2.3. Phần mềm thu thập dữ liệu cảm biến Waspmote IDE và Visual Studio
Phần mềm thu thập và hiển thị kết quả từ các cảm biến LM35, ADXL335, 6440 được viết trên phần mềm Waspmote IDE và Visual Studio. Lưu đồ thuật toán giao tiếp với cảm biến LM35, ADXL335, 6440, thuật toán hoạt động xử lý dữ liệu từ các cảm biến LM35, 6440 và thuật toán hoạt động xử lý dữ liệu từ cảm biến gia tốc ADXL335. Microsoft Visual Studio là một môi trường phát triển tích hợp (IDE) từ Microsoft. Nó được sử dụng để phát triển chương trình máy tính cho Microsoft Windows, cũng như các trang web, các ứng dụng web và các dịch vụ web. Visual Studio không hỗ trợ cho bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào về giải pháp hoặc công cụ thực chất, thay vào đó nó cho phép cắm chức năng được mã hóa như là một VSPackage. Ứng dụng của Visual Studio dùng để đọc dữ liệu từ vi xử lý và tách từng Frame của từng nút, tách mỗi Frame thành các trường dữ liệu, thu được các giá trị từ các nút, hiển thị giá trị thu được lên giao diện và truyền dữ liệu lên Webserver và xử lý các dữ liệu thu được thông qua các thuật toán nhằm đưa ra các cảnh báo về khả năng sạt lở.
III. Cách truyền thông tin Cụm cảm biến cảnh báo sạt lở 52 ký tự
Việc trao đổi thông tin giữa các cảm biến, các nút và gateway được thực hiện thông qua phương thức truyền thông tin Broadcast. Broadcast là cách thức truyền tin được gửi từ 1 điểm đến tất cả các điểm khác. Trong trường hợp này, có 1 nguồn gửi nhưng thông tin được gửi đến tất cả các nguồn nhận trong cùng 1 kết nối. Broadcast được hỗ trợ trong hầu hết các mạng LAN, được sử dụng để gửi cùng 1 nguồn tin cho tất cả các máy tính trong mạng LAN (ví dụ như bản tin ARP: giao thức phân giải địa chỉ, truy vấn địa chỉ của tất cả các máy tính trong cùng 1 mạng LAN). Giao thức lớp mạng (Ipv4) cũng hỗ trợ kiểu truyền Broadcast, cho phép các gói tin được gửi đến mọi thiết bị trong cùng 1 mạng.
3.1. Yếu tố tác động chính cho sự trượt dốc
Yếu tố tác động chính cho sự trượt dốc là do áp lực nước đối với lỗ rỗng của đất tăng lên. Điều này có thể xảy ra tại các tiếp xúc giữa lớp vỏ đất và tầng đá nền hoặc ở bề mặt ngăn cách ẩm ướt trong điều kiện mưa lớn. Các yếu tố nhạy cảm kiểm soát sự lở đất trong một khu vực nhất định có thể được chia thành hai loại: bán tĩnh và động. Các yếu tố bán tĩnh tương ứng với địa chất, thuộc tính địa kỹ thuật, độ dốc, góc cạnh, và các hệ thống thoát nước dài hạn. Các yếu tố động tương ứng với quá trình thủy văn và các hoạt động của con người. Để đánh giá sự nguy hiểm của lở đất có thể dựa trên một loạt các phương pháp và mô hình. Hầu hết dựa vào một trong hai mối tương quan nhiều yếu tố giữa quan sát sự sạt lở đất và thuộc tính cảnh quan, hoặc kết hợp tổng quát các nguy cơ lở đất từ các số liệu về độ dốc thạch học, địa hình hoặc cấu trúc địa chất. Lượng nước mưa và tỷ lệ lượng mưa hàng ngày là những yếu tố kích hoạt sự sạt lở đất.
3.2. Khả năng phân tích các yếu tố liên quan đến sạt lở
Các phương pháp thống kê có thể cung cấp một cái nhìn sâu sắc của quá trình gồm nhiều mặt liên quan đến vấn đề xảy ra sạt lở đất, và có những đánh giá hữu ích mang tính nhạy bén với nguy cơ sạt lở đất nông ở các khu vực rộng lớn. Ứng dụng một số kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây phân tích các yếu tố cường độ và thời gian của những trận mưa gây ra sạt lở đất. Kết quả là đã xây dựng được các đường cong là đường mức ngưỡng của lượng mưa, và định nghĩa là đường cong phủ của tất cả lượng mưa gây các sự kiện sạt lở đất cho một khu vực địa lý nhất định.
IV. Mô hình dự đoán trượt lở đất Độ dốc ổn định 56 ký tự
Cả hai yếu tố cường độ và thời gian mưa đều có tác động đến việc xác định các điều kiện thủy văn làm dễ gây ra sự xuất hiện của sạt lở đất. Để nghiên cứu sự ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí hậu đối với độ ổn định của môi trường đất, chúng tôi ứng dụng mô hình giải thích sự thay đổi của lượng mưa với thời gian của các trận mưa. Các thành phần ảnh hưởng đến sự ổn định mái dốc bao gồm các đặc điểm chính của lớp đất, tức là góc kháng cắt, tỷ lệ độ lỗ rỗng và trọng lượng riêng của chất rắn. Thủy văn đồi dốc được mô hình hóa bằng cách kết hợp các tính chất bảo toàn khối lượng của nước trong đất với định luật Darcy dùng để mô tả dòng chảy thấm. Điều này tạo ra một mô hình phân tích đơn giản có khả năng mô tả hiệu ứng kết hợp giữa thời gian và cường độ của lượng mưa gây ra sạt lở đất.
4.1. Mô hình đơn giản để tính toán sự ảnh hưởng của địa hình
Chúng tôi đã áp dụng mô hình đơn giản để tính toán sự ảnh hưởng của địa hình đối với vấn đề sạt lở đất bằng cách kết hợp các dữ liệu dưới dạng số của địa hình với lượng dòng chảy ở bề mặt và mô hình mái dốc ổn định. Các mô hình thủy văn được xây dựng dựa trên cách nghiên cứu về luồng dòng chảy, các mô hình này dự đoán mức độ trạng thái bão hòa của đất tương ứng với lượng mưa ổn định cho phép. Việc đơn giản hóa này có thể ảnh hưởng đến khả năng dự đoán sạt lở đất nông cạn vì điều kiện dòng chảy ổn định có thể là không phù hợp trong quá trình mưa bão.
4.2. Dòng chảy không ổn định dưới bề mặt nông
Dòng chảy không ổn định đã được nghiên cứu, giữa quá trình mô phỏng dòng chảy dưới bề mặt nông và mô hình là có sự khác biệt hữu hạn. Iida đã nghiên cứu một mô hình mà trong đó xem xét các yếu tố ngẫu nhiên của mưa là cường độ, thời gian và các yếu tố xác định vấn đề kiểm soát ổn định mái dốc. Một mô hình đã được nghiên cứu sử dụng khái niệm đơn giản là tạo ra dòng chảy sâu trong đất bão hòa không ổn định dưới bề mặt
V. Mô phỏng thực nghiệm Cụm cảm biến cảnh báo sạt lở 55 ký tự
Để mô phỏng hoạt động của hệ thống, chúng tôi sử dụng phần mềm OMNeT++ phiên bản 4.1 và cài đặt framework 2.0 có hỗ trợ chuẩn IEEE 802. Nguyên tắc mô phỏng hoạt động của mô hình: Cổng gửi BEACON tới các nút cảm biến để xác định các nút trên mạng và định tuyến với các nút cảm biến, khi một nút cảm biến đã sẵn sàng để gửi tin nhắn, nó sẽ gửi gói dữ liệu tới cổng và sau đó các cổng gửi lại một thông điệp ACK để thông báo rằng dữ liệu đã được nhận. Một mô hình trong OMNeT++ chứa các modul lồng nhau có cấu trúc phân cấp, trao đổi thông tin với nhau bằng cách gửi các message. Mỗi mô hình này thường biểu diễn cho một hệ thống mạng. Cấu trúc của mô hình có thể được mô tả bằng ngôn ngữ NED của OMNeT++.
5.1. Các bước thực hiện
Mạng cảm biến dùng trong mô phỏng là mạng WSN bao gồm các nút cảm biến đặt ở những vị trí khác nhau. Các giao thức CSMA, S-MAC, T-MAC được mô phỏng trên cơ sở hoạt động của các nút cảm biến. Mỗi nút cảm biến bao gồm 3 cảm biến (nhiệt độ, độ ẩm, gia tốc). Một user có thể đứng từ bất cứ một máy tính nào có trình duyệt Web và được nối mạng khi kết nối với Web Server sẽ được Web Server cũng trả về một trang web. Từ trang web, User có thể kiểm tra giám sát các dữ liệu từ các nút thiết bị. Để một máy tính có thể trở thành Web Server, máy tính phải được cài đặt trình phục vụ tại Server, và có nguồn của trang web. Đề tài này sử dụng công nghệ của Microsoft nên IIS được chọn dùng làm trình điều khiển Web.
5.2. Kết quả thu thập dữ liệu
Phần kết quả tôi thực hiện việc thu thập dữ liệu từ các nút cảm biến, kết nối truyền tới gateway tới webserver. Việc căn chỉnh cảm biến độ ẩm được thực hiện như phương trình sau [11]: (M ADC 0offset _ ADC )*200/ 1023 0offset _ ADC Trong đó: M: Độ ẩm đất (%), MADC: Giá trị dữ liệu trả về từ ADC. Thử nghiệm thực tế, cảm biến độ ẩm được chôn ở độ sâu 0.2m trong lòng đất và được chôn trong khoảng thời gian 2 ngày trước khi tiến hành đo đạc để đảm bảo điều kiện nước bên trong cảm biến và môi trường đất ngoài là tương đương. Đối với cảm biến gia tốc: các dữ liệu được thu thập và thực hiện việc tính toán để tìm kết quả.