CHƯƠNG 1 CHUYỂN ĐỔI TÍN HIỆU VẬT LÝ 1.1 Một số hiệu ứng chuyển đổi nhiệt-điện 1.1 Hiệu ứng nhiệt điện Gradient nhiệt sinh ra một hiệu điện thế ở mối nối của hai vật dẫn hoặc bán dẫn khác loại. Hiện tượng này được quan sát đầu tiên trong kim loại vào năm 1821 bởi Thomas Johann Seebeck và được mang tên ông.1- Vật liệu A và B gắn chặt hai đầu được giữ ở nhiệt độ T1 và T2 .1 mô tả hai vật liệu khác loại A và B, hiệu điện thế V sinh ra khi hai đầu nối được giữ ở các nhiệt độ khác nhau tỷ lệ với sự chênh lệch nhiệt độ T T2 T1 , và tuân theo phương trình: V ( S A S B )T (1.1) Với S A và S B là hệ số Seebeck của vật liệu A và vật liệu B Đây là hiệu ứng vật lý cơ bản sử dụng trong dụng cụ nhiệt, cặp nhiệt hay dụng cụ mẫu cho đo lường nhiệt độ. Năm 1834 Jean Charly Athanase Peltier tìm ra hiện tượng ngược lại: ở đầu nối của hai kim loại khác nhau, sự chênh lệch nhiệt độ sẽ tăng khi có dòng điện chạy qua. Nhiệt lượng trên một đơn vị thời gian, Q, hấp thụ bởi mối nối có nhiệt độ thấp bằng: Q ( A B ) I (1.2) với A , B là hệ số Peltier của mỗi vật liệu, I là dòng điện.
2 z Năm 1854 William Thomson (Lord Kelvin) phát hiện ra dòng điện đi qua vật có gradient nhiệt dọc theo chiều dài của nó sẽ làm vật này vừa hấp thụ vừa giải phóng nhiệt. Do gradient nhiệt tồn tại dọc chiều dài của vật liệu nên có thể lực điện động cũng được sản sinh dọc theo chiều dài. Các hệ cảm biến bao gồm nhiều sensor nhiệt chế tạo dựa trên hiệu ứng nhiệt điện, nhiều loại được ứng dụng trong các lĩnh vực như: nghiên cứu khoa học, y học, trong công nghiệp, dự trữ thực phẩm… Những kim loại và hợp kim sử dụng chế tạo cặp nhiệt điện sẽ cho các thuộc tính và biểu hiện khác nhau. Chromel (khoảng 90% Ni và 10%) và Contantan (khoảng 40%Ni và 60% Cu) là hai hợp kim thường được sử dụng.
Loại K là loại cặp nhiệt điện được sử dụng rộng rãi nhất có độ nhạy xấp xỉ 41µV/ ºC. Một vài cặp nhiệt điện loại E hoạt động ở dải nhiệt độ thấp hơn so với loại K tuy nhiên chúng lại có độ nhạy cao hơn (68µV/ ºC). Loại N (Nicrosil(hợp kim Ni-Cr-Si) / Nisil(hợp kim Ni-Si)) có độ nhạy cao và có khả năng chống lại sự oxi hóa do đó được dùng cho các phép đo nhiệt độ cao. Các loại cặp nhiệt điện khác như B, R và S đều làm từ kim loại quý để đo nhiệt độ cao nhưng có độ nhạy thấp (cỡ 10µV/ ºC).
Vật liệu nhiệt điện chế tạo từ vật liệu bán dẫn đặc thù với hệ số Peltier lớn có thể sử dụng để chế tạo vi mạch sensor nhiệt độ. Nó cũng được sử dụng làm bơm nhiệt để kích đến trạng thái tự kích của một số sản phẩm như diode laser, CCD cameras, vi xử lý, phân tích máu… Khả năng chuyển đổi qua lại giữa điện năng và nhiệt năng của thiết bị nhiệt điện phụ thuộc vào số phẩm chất (ZT) của vật liệu chế tạo và xác định bởi : ZT ( S 2T ) / ( KT ) (1.3) ở đây S ,T , ρ, K T lần lượt là hệ số Seebeck, nhiệt độ tuyệt đối, điện trở suất và độ dẫn nhiệt toàn phần. 3 z Thông thường vật liệu nhiệt điện có hệ số Seebeck lớn, dẫn nhiệt tốt và điện trở nhỏ là hiệu quả nhất đối với việc chế tạo thiết bị nhiệt điện. Bi2Te3 , Sb2Te3 là những vật liệu bán dẫn có hệ số Seebeck lớn, có ZT xấp xỉ bằng đơn vị ở nhiệt độ phòng.
Vật liệu với kích cỡ nano là những đề cử nổi trội để cải thiện các thể hiện của cấu trúc nhiệt điện. Với dây lượng tử Bi2Te3 đã đạt được ZT lớn hơn 14 khi bán kính dây giảm đến 0. Đối với cấu trúc siêu mạng của cùng vật liệu với độ dày lượng tử tích tụ 1 nm giá trị phẩm chất tốt nhất tính được là 2. Với nhiều hiệu quả nổi bật của vật liệu nhiệt điện, trong tương lai gần những dụng cụ này có thể được tìm kiếm cho phát điện và chuyển năng lượng nhiệt dư thừa thành điện năng.1- Một vài loại cặp nhiệt điện phổ biến và dải nhiệt độ tương ứng [14] Loại Vật liệu Dải nhiệt độ (ºC) K Chromel/Alumel (hợp kim Ni-Al) -200 đến +1200 E Chromel/Contantan -110 đến +140 J Iron/ Contantan -40 đến +750 N Nicrosil(hợp kim Ni-Cr-Si)/Nisil (hợp kim Ni-Si) 1.2 Hiệu ứng nhiệt điện trở Nhiệt điện trở liên quan đến thay đổi điện trở của vật liệu theo nhiệt độ và được sử dụng rộng rãi trong các cảm biến nhiệt.
Đây là hiệu ứng cơ bản của thiết bị cảm biến nhiệt như nhiệt kế điện trở và nhiệt điện trở. Điện trở R được tính theo công thức: R Rref (1 1T 2 T 2 .4) Trong đó Rref là điện trở ở nhiệt độ tham chiếu, 1. n là các hệ số nhiệt điện trở của vật liệu, T (T Tref ) là chênh lệch nhiệt độ giữa nhiệt độ T và nhiệt 4 z độ tham chiếu Tref. Phương trình cho thấy điện trở tăng theo nhiệt độ. Điều này không đúng với mọi vật liệu, vật liệu có hệ số nhiệt dương (PTC-positive temperature coefficient) thì điện trở tăng theo nhiệt độ, ngược lại hệ số nhiệt âm (NTC-negative temperature coefficient ) thì điện trở sẽ giảm theo nhiệt độ.
Trong nhiều trường hợp, vật liệu thể hiện mối quan hệ tuyến tính giữa nhiệt độ và điện trở, do vậy không cần quan tâm đến các số hạng bậc cao trong phương trình (1. Tuy nhiên sự tuyến tính này chỉ đúng trong một dải nhiệt độ nhất định.2- Dải nhiệt độ tuyến tính của một số vật liệu sử dụng chế tạo sensor nhiệt điện trở Vật liệu Dải nhiệt độ tuyến tính (ºC) Đồng -200 260 Platinum -260 1000 Vật liệu nano có thể dùng để chế tạo thiết bị nhiệt điện trở với hệ số nhiệt âm và dương như mong muốn. Những vật liệu có cấu trúc nano với tỷ lệ bề mặt / thể tích lớn hiệu quả hơn trong việc thay đổi theo sự biến thiên của môi trường. Điều này làm tăng độ nhạy của sensor với biên độ và làm giảm thời gian đáp ứng.
Saha chế tạo thành công bột có kích cỡ nano của ( Mnx Fe1 x ) 2 O3. Vật liệu đã cải tiến có chỉ số nhạy NTC lớn hơn đáng kể so với những vật liệu NTC thông thường. Tính chất điện của vật dẫn và vật cách điện hợp chất cao phân tử trộn với hạt có kích thước nano có thể sử dụng để chế tạo những nhiệt điện trở.3 Hiệu ứng điện hỏa Khi nung nóng hay làm lạnh, một tinh thể sẽ sinh ra một phân cực điện kết quả là tạo ra một hiệu điện thế. Nhiệt độ thay đổi là nguyên nhân làm cho các điện tích dương và điện tích âm di chuyển đến các cực đối diện của tinh thể.
Vật liệu điện hỏa được sử dụng trong các sensor bức xạ, trong đó các bức xạ tới bề mặt của chúng được chuyển hóa thành nhiệt. Sự tăng của nhiệt độ do những bức xạ là nguyên nhân làm thay đổi độ lớn phân cực điện của tinh thể. Điều này dẫn đến một điện thế có thể đo được, nếu đặt trong một mạch điện, dòng đo được: 5 z dT I pA (1.5) dt Với p là hệ số điện hỏa, A là diện tích của điện cực, dT/dt là tỷ số thay đổi nhiệt độ. Hệu ứng điện hỏa sử dụng để tạo ra một điện trường mạnh (GV/m) trong một vài vật liệu bằng cách đốt nóng nó từ -30 ºC đến +45 ºC trong một vài phút.
Những sensor bức xạ dựa trên hiệu ứng điện hỏa trong thương mại hoạt động trong một dải rộng của bước sóng. Sensor điện hỏa chế tạo từ vật liệu điện hỏa như lithium tantalite và PZT, phát sinh điện thế khi nhiệt độ thay đổi nhỏ do chiếu xạ vào bề mặt tinh thể. Có thể sử dụng vật liệu nano để tăng cường khả năng của các sensor điện hỏa. Ví dụ Liang đã dùng film xốp SiO2 làm lớp cách ly nhiệt để hạn chế sự khuyếch tán của dòng nhiệt từ lớp điện hỏa đến lớp Si trong đầu dò hồng ngoại điện hỏa đa lớp film mỏng.
Điều này cải thiện sự giam hãm năng lượng bên trong lớp cảm biến điện hỏa, dẫn đến sự tăng cường hoạt động của sensor.2 Một số hiệu ứng chuyển đổi cơ - điện 1.1 Hiệu ứng áp điện Hiệu ứng áp điện là khả năng sản sinh ra điện thế của các tinh thể không đối xứng tâm khi chịu tác dụng của lực cơ học, và ngược lại. Hiệu ứng này được tìm ra vào năm 1880. Vật liệu áp điện phổ biến nhất là thạch anh, lithium niobate, vlithium tantalite, vPZT và langasite. Một vài vật liệu áp điện khác là gốm chứa Fe(II), Fe(III) thể hiện tính áp điện khi được phân cực bởi điện trường ngoài.
Tinh thể áp điện là hình lập phương đối xứng tâm (đẳng hướng) trước phân cực và sau phân cực thể hiện tính đối xứng tứ giác (cấu trúc bất đẳng hướng) dưới nhiệt độ Curie. Ở trên nhiệt độ Curie nó mất đi thuộc tính áp điện. Những chất cao phân tử như cao su, gỗ, tóc, gỗ thớ và lụa trong một phạm vi nhất định cũng thể hiện tính áp điện. Polyvinylidene fluoride (FVDF) là vật liệu nhựa dẻo nóng khi được phân cực thể hiện tính áp điện trong một vài trường hợp 6 z mạnh hơn thạch anh.Vật liệu áp điện là lựa chọn cực kỳ phổ biến cho những cảm biến trong phạm vi rất rộng.2- (a) vật liệu áp điện, (b)một điện thế tương ứng có thể đo được là kết quả của sự nén hay kéo, (c) một điện thế đặt vào có thể làm nén hay giãn vật liệu áp điện.2 Hiệu ứng từ giảo Hiện tượng từ giảo hay còn gọi là hiệu ứng cơ-từ là sự thay đổi kích thước của vật khi nó được đặt trong một từ trường, hay thuộc tính từ thay đổi dưới ảnh hưởng của sự nén hay giãn.
Hiệu ứng này được tìm ra bởi James Joule vào năm 1842 khi ông kiểm tra một mẫu kền. Cơ chế xuất hiện hiện tượng từ giảo được minh họa ở hình 1.3 vùng từ tính sắp xếp ngẫu nhiên khi vật liệu chưa được từ hóa. Khi được từ hóa vùng này được định hướng lại làm thay đổi kích thước của vật. Vật liệu từ giảo chuyển năng lượng từ thành năng lượng cơ và ngược lại.
Do đó chúng thường được sử dụng cân đối giữa cảm biến và kích thích.