Đặt vấn đề • Chương 2: Tổng quan nghiên cứu • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu • Chương 4: Xây dựng kế hoạch áp dụng BIM và áp dụng vào dự án X • Chương 5: Quy trình chuyển đổi sang sử dụng BIM • Chương 6: Đánh giá và kết luận Phụ lục 4 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. CÁC ĐỊNH NGHĨA Mô hình thông tin công trình BIM Hình 2.1 – Vòng đời của dự án BIM viết tắt của từ Building Information Modeling là quá trình tạo lập và sử dụng mô hình thông tin trong các giai đoạn thiết kế, thi công và vận hành công trình. Như vậy BIM là gì không thể chỉ hiểu là những phần mềm như Revit, Tekla, Navisworks… mà đó là cả một quy trình hoàn thiện. Từ giai đoạn tạo dựng mô hình 3D cho đến việc dùng mô hình đó trong giai đoạn thiết kế (hồ sơ bản vẽ), thi công (quản lý khối lượng, lập biện pháp, an toàn lao động…) và quản lý tòa nhà (bảo trì các thiết bị cơ điện nước), xuyên suốt vòng đời của công trình.
Ý tưởng cơ bản hình thành nên BIM được giới thiệu tường minh trong nghiên cứu của Thompson and Miner (2007); trong đó, nếu tất các dữ liệu liên quan đến một DA bất kỳ đều được kết nối và lưu trữ trong một hệ thống trực tuyến (online) duy nhất, dự án có thể được triển khai trước trong một môi trường ảo (virtual environment). Khi các công tác về tiến độ và chi phí được bổ sung vào mô hình này, nó cho phép phân tích dễ dàng chi phí – thời gian của từng công tác khác nhau của dự án gần như ngay lập tức. Các định nghĩa về BIM có thể khác nhau tùy theo các nguồn tài liệu tham khảo. Tiêu chuẩn ISO 19650-1 (2018) định nghĩa “BIM là việc dùng chung dạng hiển thị số hóa của công trình XD nhằm hỗ trợ cho công tác Phụ lục 5 thiết kế, thi công và quản lý vận hành để hình thành nên cơ sở dữ liệu tin cậy cho việc ra quyết định”.
Tiêu chuẩn BIM Quốc gia Hoa Kỳ (NBIMS-US, 2007) định nghĩa BIM như sau: “Một tập dữ liệu số hóa bao gồm các đặc trưng vật lý và công năng của một DA được chia sẻ để hình thành nên một nền tảng đáng tin cậy cho việc ra các quyết định trong suốt vòng đời của nó; được xác định từ khi thiết kế ý tưởng đến khi phá dỡ DA”. Trong khi, Autodesk (Autodesk, 2021) cho rằng: “BIM là một quy trình kỹ thuật tổng thể để tạo và quản lý thông tin cho công trình. BIM tích hợp dữ liệu đa ngành, có cấu trúc để tạo ra bản trình bày kỹ thuật số của một công trình trong suốt vòng đời của nó, từ lập kế hoạch và thiết kế đến XD và vận hành”. So với mô hình CAD truyền thống, Mesaros và cộng sự (2020) đã nêu và tổng hợp các lợi ích của BIM và đồng thời xác định đây là động lực ứng dụng BIM cho các hoạt động XD như sau: giúp ra quyết định kịp thời và hợp lý ngay từ giai đoạn đầu của DA; cải thiện chất lượng, tiến độ thi công và tiết kiệm chi phí cho toàn DA và từng hạng mục dựa vào mô hình 3D chi tiết đã được tạo dựng từ trước; tăng hiệu quả giao tiếp giữa các bên thông qua mô hình 3D và kiểm soát tốt xung đột giúp giảm thiểu sự điều chỉnh; khả năng dự báo các rủi ro tiềm ẩn trên công trường và loại trừ các công tác thiếu an toàn; và sự thay đổi được tự động cập nhật real-time.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ Small and Medium-Sized (SMEs). SME là thuật ngữ viết tắt bao gồm các chữ cái đầu tiên của các từ Tiếng Anh sau • S = Small • M = Medium • E = Enterprise • SME = Small and medium enterprise SMEs hay SME là viết tắt của cụm từ Small and Medium Enterprise khi được dịch sang tiếng Việt cụm từ này có nghĩa là Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi công thức hóa ta được: SME = Small and Medium Enterprise. Từ theo định nghĩa về thuật ngữ SME, khi nói đến Doanh nghiệp SME ta có thể hiểu đó chính là đề cập đến cộng đồng các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về số lượng lao động, về vốn và về doanh thu.
Phụ lục 6 Căn cứ vào quy mô, ta có thể chia cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ thành 03 loại: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. ❖ Tiêu chí phân loại doanh nghiệp SME theo quy định của Việt Nam Theo điều 6, 7, 8, 9, 10, 11 theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 11/3/2018 quy định cụ thể như sau: Lĩnh vực Doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp siêu nhỏ nhỏ vừa Nông nghiệp, lâm - Số lao động tham - Số lao động tham - Số lao động tham nghiệp, thủy sản gia BHXH bình gia BHXH bình gia BHXH bình và công nghiệp, quân/năm không quân/năm không quân/năm không xây dựng quá 10 người. quá 100 người. quá 200 người.
- Tổng doanh thu - Tổng doanh thu - Tổng doanh thu của năm không của năm không của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc quá 50 tỷ đồng quá 200 tỷ đồng tổng nguồn vốn hoặc tổng nguồn hoặc tổng nguồn không quá 3 tỷ vốn không quá 20 vốn không quá 100 đồng. Thương mại dịch - Số lao động tham - Số lao động tham - Số lao động tham vụ gia BHXH bình gia BHXH bình gia BHXH bình quân/năm không quân/năm không quân/năm không quá 10 người. quá 50 người. quá 100 người.
- Tổng doanh thu - Tổng doanh thu - Tổng doanh thu của năm không của năm không của năm không quá 10 tỷ đồng quá 100 tỷ đồng quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn hoặc tổng nguồn hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ vốn không quá 50 vốn không quá 100 đồng. ❖ Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ SMEs ngành xây dựng. Từ khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa nói chung có xu hướng chiếm ưu thế hơn so với các doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp này có những đặc điểm sau: Phụ lục 7 - Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các SMEs thường tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính.
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các doanh nghiệp thường là những nghiệp vụ cơ bản, gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu - Tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý của các SMEs thường linh hoạt, gọn nhẹ. - Quy mô hoạt động kinh doanh, quy mô vốn đầu tư ban đầu không lớn. - Cơ sở vật chất kỹ thuật thường yếu kém, trình độ công nghệ thường đơn giản. - Các doanh nghiệp xây lắp nhỏ và vừa thường tổ chức các tổ (đội) thi công trực thuộc.
Tuy nhiên, các tổ (đội) hầu hết đều hạch toán phụ thuộc với các doanh nghiệp. - Vốn đầu tư thực hiện các công trình xây lắp thi công trong các SMEs thường không lớn, thời gian thi công không dài do hạn chế về nguồn lực. - Cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ công nghệ của các doanh nghiệp xây lắp nhỏ và vừa còn hạn chế. Các doanh nghiệp này phần lớn phải thuê ngoài MTC để thi công các công trình.
❖ Vai trò của DN vừa và nhỏ: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp hiện tại. Có thể thấy doanh nghiệp vừa và nhỏ sự đóng góp vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể cho người dân khắp vùng miền trên cả nước, tạo công ăn việc làm và thu nhập nuôi sống bản thân gia đình và xã hội. Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn giữ vai trò ổn định nền kinh tế, với một số lượng rất lớn nên việc kinh tế được đảm bảo ổn định. Việc biến động hay khi có nhu cầu điều chỉnh và thay đổi phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế dễ dàng, ít ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế nước nhà.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là trụ cột của kinh tế địa phương. Thông thường các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước còn doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương. Ngoài ra doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp to lớn, quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm trong cả nước, đóng góp không nhỏ giá trị GDP cho quốc gia. Phụ lục 8 Các mô hình quản lý 2.
Mô hình quản lý theo phương pháp truyền thống Các doanh nghiệp thiết kế - thi công vừa và nhỏ hiện nay đa phần đều làm việc trên nền tảng 2D AUTOCAD là chính. Các thông tin trên các bản vẽ thường hay thiếu, sai sót và thiếu sự liên kết đặc biệt là khi sử dụng bản vẽ riêng biệt cho từng bộ môn Kết cấu, Kiến trúc, MEP. Chúng thường được xử lý bằng các đè chồng các bản vẽ lên để kiểm tra. Tuy nhiên rất nhiều xung đột không được phát hiện cho đến khi ra thi công.
Việc bốc tách khối lượng cũng trên các bản vẽ 2D khiến không nắm được các kích thước theo độ cao dẫn đến thiếu sót.2 – Sơ đồ cách thức làm việc truyền thống (Giáo trình "BIM ứng dụng trong QLXD, 2020) Thông thường các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành xây dựng sẽ có các phòng ban riêng biệt hoạt động độc lập như: Phòng Thiết kế, Phòng Thi công, Phòng Kinh doanh, Phòng Marketing, Phòng Vật tư,… Do đó vấn đề trao đổi thông tin giữa các phòng ban là vấn đề thường mắc phải trong quá trình triển khai dự án do có nhiều con người, nhiều phòng ban cùng tham gia. Mà thường cách thức làm việc đa phần là làm việc trực tiếp thông qua trao đổi, zalo, tin nhắn,… Do đó việc phối hợp theo phương pháp truyền thống này khiến thông tin truyền đi bị sai lệch, hoặc không nhận được. Ưu và nhược điểm của quản lý truyền thống: ❖ Ưu điểm: - Tạo và sửa lỗi dễ dàng hơn. - Trực quan, dễ đọc dễ hiểu vì từ xưa tới nay làm việc chủ yếu trên nền 2D.
- Lưu và tái sử dụng các bản vẽ dễ dàng hơn bằng đĩa cứng hay CD. Phụ lục 9 - Tăng độ chính xác tương đối cao. - Lưu trữ thành cơ sở dữ liệu để dễ dàng quản lý hơn. Đồng thời chuyển file mô hình dễ dàng hơn Internet.
Giảm thiểu thời gian trao đổi thao luận giữa các kỹ sư ở các khu vực địa lý khác nhau. Gửi nhận qua email chỉ mất vài giây. ❖ Nhược điểm: - Thời gian và chi phí cho việc triển khai một hệ CAD là lớn.