CHƯƠNG I: KHUNG NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về thực hiện công việc của người lao động tại chi nhánh ngân hàng thương mại. Khái niệm thực hiện công việc của người lao động tại chi nhánh ngân hàng thương mại Thuật ngữ “người lao động” vô cùng quen thuộc đối với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh và các chi nhánh ngân hàng cũng không ngoại lệ. Người lao động là thành phần nhân sự chính của các doanh nghiệp nói chung hay các chi nhánh ngân hàng thương mại (CNNHTM) nói riêng.
Hiểu một cách tổng quát thì người lao động tại CNNHTM là những người hiện đang làm việc tại các CNNHTM và thực hiện những công việc mang đặc thù riêng và nằm trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh. Người sử dụng lao động (CNNHTM) sẽ thuê người lao qua việc tuyển dụng, đào tạo và thực hiện công công việc theo hợp đồng lao động, và người lao động thì nhân được lương và được quản lý bởi người sử dụng lao động, có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên (Quốc hội, 2019). Là một người lao động sẽ chịu trách nhiệm thực hiện công việc (THCV) theo chức năng, nhiệm vụ của mình để có thể đem lại những lợi ích cho chi nhánh ngân hàng thương mại (CNNHTM) nơi mình làm việc và nhận lại những phần thưởng xứng đáng. Theo Trần Kim Dung (2015): “Công việc của người lao động là tổng hợp các chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm mà người lao động đó phải đảm nhận trong tổ chức”.
Tuỳ theo từng công việc và những chuyên môn cụ thể thì mỗi người lao động trong CNNHTM lại đảm nhiệm một công việc khác nhau. Theo Trần Kim Dung (2015): “Thực hiện công việc của người lao động là việc người lao động vận dụng các yếu tố sức khỏe, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm… kết hợp với máy móc, công nghệ để làm ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường” 4 1. Vai trò của thực hiện công việc của người lao động tại chi nhánh ngân hàng thương mại. Việc THCVcủa người lao động tại CNNHTM có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ với bản thân người người lao động, với CNNHTM mà còn cả với xã hội nói chung Đối với bản thân người lao động, THCV là trách nhiệm, bổn phận phải thực hiện của người lao động khi ký kết hợp đồng lao động và trở thành nhân sự của CNNHTM.
THCV giúp cho người lao động hoàn thành được các trọng trách, nhiệm vụ được cấp trên giao phó, phân công, giúp họ tích luỹ được những kinh nghiệm làm việc, có được thiện cảm tốt với cấp trên và đồng nghiệp, giúp tăng tính hoà đồng, gắn kết với CNNHTM. Đặc biệt việc tích cực THCV sẽ giúp cho người lao động đạt được những thành quả nhất định, được thăng tiến trong sự nghiệp, có được lương thưởng xứng đáng, nuối sống được bản thân và những người trong gia đình, thoát khỏi tình trạng thất nghiệp. Đối với CNNHTM, sự THCV của nhân việc là một trong những hoạt động cốt yếu của ngân hàng, là một mắt xích vô cùng quan trọng trong quy trình cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng tới các khách hàng. người lao động THCV sẽ giúp cho CNNHTM vận hành bình thường và có thể cung ứng tốt các dịch vụ như đầu tư, cấp tín dụng, huy động vốn, thanh toán, mua bán cổ phần, góp vốn,.
tới những khách hàng có nhu cầu giao dịch tại các CNNHTM. Nếu như người lao động không THCV thì một điều tất yếu rằng các CNNHTM không thể hoạt động được bình thường vì không cung cấp được các dịch vụ mình có tới khách hàng. Đối với xã hội, THCV của người lao động tại các CNNHTM sẽ giúp cho thị trường lao động có nhiều người tham gia hơn và giảm được một phần lớn người thất nghiệp, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho toàn thể những người trong độ tuổi lao động đi làm người lao động tại các CNNHTM. Từ đó xã hội sẽ giảm bớt một phần gánh nặng và làm giảm tỷ lệ thất nghiệp hàng năm cho đất nước.
Đặc điểm thực hiện công việc của người lao động tại chi nhánh ngân hàng thương mại. THCV của người lao động tại CNNHTM có những đặc điểm chính sau: 5 - THCV của người lao động tại các CNNHTM có đặc trưng là làm việc với các con số, chỉ cần một thiếu sót nhỏ hay sai số nhỏ cũng có thể gây chênh lệch vô cùng lớn về khoản tiền và tạo nên những tổn thất khó lường cho ngân hàng. Chính vì vậy THCV của người lao động tại các CNNHTM đặc biệt yêu cầu cẩn trọng và tỉ mỉ, sự cẩn trọng và tỉ mỉ phải là tuyệt đối và không thể để ra sai sót dù chỉ là một chút nhỏ về các con số là đặc trưng nổi bật dễ thấy nhất - THCV của người lao động là hoạt động mang tính cá nhân do người lao động THCV vì vậy nó mang đặc tính cá nhân và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ người lao động. - Vì là hoạt động trong CNNHTM là một tổ chức nói chung nên sự THCV của người lao động mang tính tổ chức và chịu ảnh hưởng bởi những đặc thù của CNNHTM.
người lao động THCV trong sự lãnh đạo, quản lý, kiểm soát của cấp trên, tuân theo những quy tắc của CNNHTM và cần phối hợp, tương tác với các người lao động khác để gắn kết các công việc sao cho sự thực hiện được diễn ra nhịp nhàng. - THCV của người lao động phải chịu sự quản lý (được lên kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát). Đặc biệt, ĐGTHCV là một cách điển hình để kiểm soát người lao động. Đánh giá thực hiện công việc của người lao động tại chi nhánh ngân hàng thương mại.
Khái niệm và mục tiêu đánh giá thực hiện công việc của người lao động tại chi nhánh ngân hàng thương mại 1. Khái niệm đánh giá thực hiện công việc của người lao động tại chi nhánh ngân hàng thương mại Một trong những hoạt động quan trọng của quá trình quản lý nói chung và quản lý nhân lực nói riêng lầ đánh giá thực hiện công việc (ĐGTHCV). Có thể hiểu ĐGTHCV là sự đánh giá chính thức, mang tính hệ thống thực trạng THCV của người lao động trong sự so sánh với các tiêu chí trong khung tiêu chí đã được xây dựng sẵn và trao đổi với người lao động về sự đánh giá đó. Như vậy, có thể hiểu “ĐGTHCV là một hoạt động quản lý nguồn nhân lực quan trọng và luôn luôn tồn tại trong tất cả các tổ chức.
ĐGTHCV là một 6 quy trình đánh giá được xây dựng khoa học, có kế hoạch, mục tiêu, khung tiêu chí đánh giá rõ ràng, chi tiết và được triển khai thực hiện một cách đồng bộ, thống nhất trong toàn CNNHTM. Trên cơ sở so sánh với các tiêu chí trong khung tiêu chí đã đề ra ta có được kết quả ĐGTHCV được thể hiện qua văn bản công khai và đưa đến các nhân viên. Mục tiêu đánh giá thực hiện công việc của người lao động tại chi nhánh ngân hàng thương mại ĐGTHCV người lao động tại các CNNHTM là một hoạt động trọng yếu trong ngân hàng vì nó mang những mục tiêu lớn có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ ngân hàng, cho đến các mục tiêu tác động trực tiếp không chỉ đến người lao động mà còn ảnh hưởng tới các quyết đingj của nhà quản lý về nhân sự như lương, thưởng, thăng tiến, đãi ngộ, kỷ luật, cho thôi việc,. Sau đây là một số mục tiêu ĐGTHCV tiêu biểu của người lao động tại CNNHTM: - ĐGTHCV của người lao động là cơ sở để trả lương cho người lao động - Giúp người lao động biết được lỗi và sửa chữa lỗi trong quá trình làm việc - Phản hồi về mức độ THCV của người lao động so với tiêu chí - ĐGTHCV của người lao động là cơ sở để thuyên chuyển công tác cho người lao động - ĐGTHCV của người lao động là căn cứ để đề bạt họ - ĐGTHCV của người lao động là cơ sở để đào tạo và phát triển họ - Khuyến khích, động viên người lao động bằng các công cụ khác nhau 1.
Chủ thể đánh giá thực hiện công việc của người lao động tại chi nhánh ngân hàng. Để ĐGTHCV thì có rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình này, đa số ai trong chi nhánh ngân hàng cũng cần có trách nhiệm ĐGTHCV của người lao động, ví dụ như: Giám đốc chi nhánh ngân hàng (Nhà quản lý cấp cao); Trưởng bộ phân (Nhà quản lý trực tiếp); Các đồng nghiệp (đánh giá chéo lẫn nhau); hay 7 chính bản thân người lao động thực hiện công việc hoặc còn có cả một số bên liên quan. Cụ thể: - Giám đốc chi nhánh ngân hàng (Nhà quản lý cấp cao): Giám đốc chi nhánh ngân hàng là người đứng đầu tại chi nhánh ngân hàng đó, đây là người sẽ đưa ra đánh giá tổng quan, chịu trách nhiệm chung về ĐGTCV của người lao động và đưa ra các quyết định, ký các văn bản hay duyệt các kiến nghị liên quan đến ĐGTHCV của người lao động tại chi nhánh ngân hàng đó. - Trưởng các bộ phận (Nhà quản lý trực tiếp): Đây là chủ thể ĐHTHCV chính, có vai tròquan trọng nhất đối với ĐGTHCV của người lao động.
Theo Trần Thị Kim Dung (2015): “Cấp trên trực tiếp là người trực tiếp phân công công việc cho người lao động, nắm được quá trình thực hiện công việc của người lao động, có khả năng kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện công việc của người lao động một cách chính xác nhất và là người hiểu rõ nhất công việc của người lao động. Thông thường, người được chọn làm người đánh giá bao giờ cũng là người hiểu rõ nhất về kết quả thực hiện công việc của đối tượng được đánh giá. Do vậy, người lãnh đạo trực tiếp bao giờ cũng được chọn là người đánh giá có trọng số đánh giá cao so với người đánh giá khác” - Đồng nghiệp: Theo Trần Thị Kim Dung (2015) “Các đồng nghiệp, người ngang vị trí tự đánh giá lẫn nhau, dựa trên những chuyên môn chung để nhận xét về năng lực của đồng nghiệp. Tiêu chí đánh giá này dựa trên sự khách quan của các thành viên trong doanh nghiệp.” - Tự đánh giá: Theo Trần Thị Kim Dung (2015) “Tự đánh giá là một hình thức đánh giá đặc biệt mà trong đó chủ thể đánh giá đồng thời là đối tượng đánh giá.