Chương 1: Tổng quan về rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam — Chỉ nhánh Hà Tĩnh. Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay tại Chỉ nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Tĩnh. Mặc dù quá trình nghiên cứu có sự nỗ lực, cố gắng nhưng khó có thé tránh khỏi những thiếu sót về nội dung cũng như hình thức.
Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của giáo viên hướng dẫn dé dé tai này được hoàn thiện hơn. SV: Hoang Thi Ngoc Trâm 2 Lop: TCDN 53B Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tran Thị Tổ Linh CHUONG I TONG QUAN VE RUI RO TRONG HOAT DONG CHO VAY CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Ngân hàng thương mại va nghiệp vu cho vay 1.
Khái quát về Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng. Đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đầy phát triển kinh tế.
Trước hết, ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Hoạt động ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng. Do nhu cầu cất giữ tiền, nhiều người làm nghề đổi tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất giữ hộ. Việc cất giữ hộ là điều kiện dé thực hiện thanh toán hộ.
Thanh toán qua trung gian làm nảy sinh thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó thu hút được các thương gia gửi tiền nhiều hơn. Khi giữ một lượng lớn tiền trong két, họ nhận thấy thường xuyên có người gửi vào và rút ra song tất cả người gửi tiền không rút tiền cùng một lúc. Do tính chất vô danh của tiền, họ sử dụng tạm thời một phan tiền gửi dé cho vay. Hoạt động đó tạo nên lợi nhuận lớn nên họ tìm cách mở rộng thu hút tiền gửi bằng cách trả lãi cho người gửi tiền thay vì thu phí giữ tiền như trước đây.
Hoạt động cho vay với lãi suất thấp, quy mô lớn dựa trên tiền gửi của khách hàng đã làm thay đổi cơ bản hoạt động của nghé kinh doanh tiền tệ, từ đó hình thành nên ngân hàng. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, với các dịch vụ chính là huy động tiền gửi, cấp tín dụng và thực hiện thanh toán. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, số lượng ngân hàng cũng như tầm ảnh hưởng đối với nền kinh tế thế giới.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại Khi nghiên cứu về NHTM, các nhà kinh tế đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau về NHTM. Có ý kiến cho rằng: “ NHTM là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay”, lại có ý kiến cho rằng: “ NHTM là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ dé cho vay tiền và mở tài khoản tiền gửi”.
Sở đĩ có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM là do các nghiệp vụ của ngân SV: Hoang Thi Ngoc Trâm 3 Lop: TCDN 53B Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tran Thị Tổ Linh hàng rất đa dang, được mở rộng va phát triển theo xu thé phát triển của nền kinh tế thế giới. Mặt khác, do tập quán, luật pháp và phong cách sống khác nhau của mỗi quốc gia đã dẫn đến những qiuan niệm khác nhau về NHTM. Ở Mỹ, “ NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dich vụ tài chính”.
Đạo luật ngân hàng Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “ NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức kí thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dung tai nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, theo luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam 2010, “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thé thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Như vậy, NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ.
Thông qua nghiệp vụ huy động vốn để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Thông qua các nghiệp vụ, NHTM đã chứng tỏ được sự cần thiết và vai trò hết sức quan trọng của hệ thống ngân hàng trong xu thé phát trién của nền kinh tế thế giới ngày nay.Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM e Nghiệp vụ huy động vốn: Đây là nghiệp vụ cơ bản của NHTM. Nó quyết định quy mô cũng như hiệu quả của các hoạt động khác của NHTM. NHTM có thể huy động vốn nhàn rỗi của nền kinh tế bằng nhiều hình thức khác nhau như: nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, phát hành trái phiếu, kì phiếu, tín phiếu trên thị trường vốn hay vay vốn của NHNN hoặc các tô chức tín dụng khác.
Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM còn phụ thuộc đáng kể vào vốn tự có của ngân hàng và những quy định cụ thể của NHNN về tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu với vốn huy động, thông qua tỷ lệ này mà NHNN đã hạn chế được một số rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. e Nghiệp vu tín dụng: Đây là hoạt động cơ bản và đặc trưng của NHTM, cũng là hoạt động chủ yếu mang lại thu nhập cho các NHTM. Để thực hiện nghiệp vụ này, NHTM sử dụng phần lớn số vốn mà ngân hàng huy động được từ nền kinh tế để cung cấp SV: Hoang Thi Ngoc Trâm 4 Lop: TCDN 53B Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tran Thị Tổ Linh cho các nhu cầu của nền kinh tế.
Nghiệp vụ tin dụng bao gồm nhiều hình thức khác nhau dựa trên sự khác biệt của quy trình cấp tín dụng, hoặc đối tượng, mục tiêu cấp tín dụng. + Phân loại tín dụng theo cách thức xác định số tiền cho vay: tín dụng từng lần và tín dụng hạn mức + Theo cách thức cấp tín dụng: chiết khấu, cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán. + Theo thời hạn tín dụng: Tín dụng ngắn hạn (từ 12 tháng trở xuống), tín dụng trung han (từ 1 năm đến 5 năm), tin dụng dai hạn ( trên 5 năm). + Theo hình thái tiền tệ: tín dụng nội tệ, ngoại tệ, vàng.
+ Theo mục đích sử dụng vốn: tín dụng sản xuất kinh doanh, tín dụng tiêu dùng. + Theo khách hàng: tín dụng cho Chính phủ, các định chế tài chính, doanh nghiệp/ hộ kinh doanh, cá nhân. + Theo tài sản dam bảo: tin dụng cầm cé/ thé chấp tài sản của khách hàng, tài sản hình thành từ vốn vay, bảo lãnh. + Theo ngành kinh tế: tín dụng công nghiệp, nông nghiệp.
Thông qua các nghiệp vụ này, NHTM đã trở thành một trung gian tài chính hoàn hảo. Nó đã điều chuyên vốn cho nền kinh tế từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, qua đó thúc day nền kinh tế phát triển nhanh hơn và sâu hơn. Đồng thời, nó góp phần đây nhanh quá trình sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hóa, tác động tới lượng tiền mặt lưu thông với chi phí giảm dang kể, tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi một cách tối đa, thông qua đó còn thực thi chính sách tiền tệ của quốc gia. Có thể nói hoạt động tín dụng (chủ yếu là hoạt động cho vay) là hoạt động quan trọng của NHTM.
Hoạt động này liên quan mật thiết đến các ngành, lĩnh vực, đối tượng mà ngân hàng cấp tín dụng. Do vậy, rủi ro trong hoạt động cho vay là rủi ro tiêm ân từ tất cả các ngành nghề, lĩnh vực mà ngân hàng cho vay. Chính vì vậy, việc nghiên cứu rủi ro tín dụng hay rủi ro trong cho vay là van dé cấp bách luôn được các NHTM quan tâm hàng đầu. e Các hoạt động thanh toán và dich vụ khác: Ngoài các nghiệp vụ cơ bản trên, NHTM còn thực hiện một số hoạt động dịch vụ để đáp ứng mọi nhu cầu, mang tới các tiện ích cho khách hàng, nhằm thu hút khách hàng đến với ngân hàng đồng thời tạo thu nhập khác ngoài thu từ lãi cho vay.
Các dịch vụ cơ bản như: SV: Hoang Thi Ngoc Trâm 5 Lop: TCDN 53B Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tran Thị Tổ Linh + Dịch vu thanh toán hộ + Dịch vụ tư vẫn + Dịch vụ quản lý tài sản và các giấy tờ có giá. Có thể nói các nghiệp vụ của NHTM có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình vận hành của cả bộ máy. Nghiệp vụ huy động vốn tạo tiền đề cho các nghiệp vụ tín dụng và đầu tư.
Thông qua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng có được thu nhập dé tái tạo các nguồn vốn khác. Còn các dịch vụ khác của ngân hàng nhằm tạo tiện ích, thu hút khách hàng tạo điều kiện mở rộng huy động vốn cũng như mở rộng thị trường kinh doanh của NHTM. Mỗi nghiệp vụ đóng một vai trò khác nhau nhưng nhìn chung nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ quan trọng nhất, nó quyết định đến mục tiêu sau cùng của ngân hàng là lợi nhuận. Nghiệp vụ cho vay của NHTM 1.Khái niệm, đặc điểm về cho vay Cho vay là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Ngân hàng có thé cho vay bang tiền mặt hoặc chuyên khoản, tiền có thé chuyên tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng. Cho vay là nghiệp vụ tín dụng chủ yếu của ngân hàng, đồng thời cũng mang về thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ấn có thể xảy ra làm giảm thu nhập của ngân hàng. Do vậy, các NHTM luôn phải quan tâm tới rủi ro trong cho vay nhằm hạn chế tối đa rủi ro tín dụng xảy ra đối với ngân hàng.