Chương 1 - Giới thiệu Tổng quan về hệ thống thông tin trong trường THPT. Lợi ích của CNTT được ứng dụng trong giáo dục. Những dự đoán về nhu cầu và khó khăn của giáo viên, học sinh và phụ huynh trong việc thông tin liên lạc, học tập và giảng dạy. Chương 2 - Khảo sát thực tế Chỉ tiết về số liệu, cách thức khảo sát ý kiến tại các trường phổ thông trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Từ đó phân tích cụ thể và đưa ra phương hướng giải quyết các yêu cầu gặp phải. Chương 3 - Các công cụ hỗ trợ Sơ lược về kiến thức và những vấn đề liên quan đến các công cụ hỗ trợ xây dựng chương trình dạy học từ xa như PHP, JavaScript, MySQL, HTTL Live Stream, CSS,. Chương 4 - Chương trình "Dạy học từ xa" Tập trung đi vào quá trình xây dựng chương trình DHTX. Giới thiệu các chức năng chính, ý tưởng giải thuật xây dựng từng chức năng và hướng dẫn sử dụng chương trình.1 Tổng quan về hệ thông thông tin 1.1 Hệ thống thông tin là gì? Hệ thống thông tin là một hệ thống mà mục tiêu tồn tại của nó là cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động của con người trong một tổ chức nào đó.
Ta có thể hiểu hệ thống thông tin là hệ thống mà mối liên hệ giữa các thành phần của nó cũng như mối liên hệ giữa nó với các hệ thống khác là sự trao đổi thông tin. Hệ thống thông tin được tách ra từ hai phần, hệ thống và thông tin. Những gì thuộc về hệ thống được đảm bảo tính nhất quán, tiện dụng, và đảm bản sự thống nhất, gắn kết chặt chế với nhau. Thông tin bao gồm những cách thức xử lý, tận dụng, đánh giá, phân tích, loại bỏ, quảng bá, truyền thông, trao đổi.
Khi hệ thống gắn kết với thông tin là công việc nói đến những quy trình, những hoạt động gắn kết với nhau. Không có sự gắn kết thì hệ thống thông tin sẽ gặp nhiều vấn đề, không phát huy được tác dụng nhất là cho việc phân tích, dự báo, hoặc là hỗ trợ các quyết định.2 Hệ thống thông tin trong giáo dục Hệ thống thông tin trong giáo dục được hiểu là thông tin, hệ thống thu thập, lưu trữ, khai thác và tổ chức việc khai thác thông tin tập trung vào các vấn để giáo dục như quản lý, thông tin, giảng dạy và học tập. Quá trình dạy học, lưu trữ bài giảng, khai thác bài giảng cũng như quá trình trao đổi, thông tin, thông báo trong nhà trường hay giữa nhà trường và gia đình thuộc về hệ thống thông tin trong trường học. Phát triển tốt hệ thống thông tin trong giáo dục sẽ nâng cao chất lượng quản lý, thông tin liên lạc giữa nhà trường và phụ huynh, từ đó nâng cao hiệu quả truyền đạt và lĩnh hội tri thức của thầy và trò.2 Lợi ích của CNTT trong giáo dục Từ rất sớm, chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo, thủ tướng chính phủ đã xem CNTT là tiém luc quan trong trong tiến trình phát triển giáo dục.
Chỉ thị 5§-CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 7 tháng 10 năm 2001 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trong tâm của ngành giáo dục và đào tạo là đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đẩy mạnh phát triển ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục giai đoạn mới. Hiện nay các trường phổ thông điều trang bị phòng máy, phòng đa năng, nỗi mạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức, một số trường còn trang bị thêm Thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máy quét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình. Góp phần nhanh chóng đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa trong lối dạy và học ở trường phổ thông. CNTT tạo một bước đà quan trọng trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học.
Những phương pháp dạy học truyền thống theo cách thầy viết giảng, trò ghi chép vốn đã không còn phù hợp trong xu hướng hiện đại ngày nay. Cùng với sự phát triển của công nghệ và thông tin, quá trình đổi mới phương pháp dạy học cũng từng bước được nâng cao thông qua các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại như dạy theo nhóm, dạy dự án, dạy học từ xa qua mạng Internet,. Chính điều này đã làm thay đổi nhận thức về cách dạy và học vốn đã tôn tại quá lâu. Học sinh ngày nay không cần phải đặt nặng quá nhiều vào việc ghi nhớ kiến thức và vận dụng vào trong bài tập thực hành, cái quan trọng là phát huy ở chính con người các em khả năng sáng tạo và sự năng động, chủ động trong học tập.
Như vậy, việc chuyển từ "lấy giáo viên làm trung tâm" quyết định khả năng tiếp thu và vận dụng của các em sang "lấy học sinh làm trung tâm" đã được hỗ trợ và phát huy tích cực nhờ vào tng dung CNTT. Các ứng dụng phần mềm đang trong giai đoạn phát triển mạnh, mang tính cạnh tranh cao đem lại nhiều sự lựa chọn có chất lượng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực trong đó có giáo dục. Phải kể đến là ứng dụng tuyệt vời của những phần mềm văn phòng Microsoft Office, OpenOffice,., phần mềm thiết kế hình vẽ tĩnh/động Cabri, Geo Sketchpad, Geogebra,.; các phần mềm thí nghiệm ảo Crocodile, ChemWin,.cùng với các hệ hồng mạng, truyền tin đã tạo một làn sóng ồ ạt tác động không nhỏ vào phương thức dạy-dọc thời đại thông tin. 7 Chính nhờ sử dụng những phần mềm này mà một học sinh trung bình ngày trước vốn xem kiến thức là điều gì đó xa vời, kém hứng thú nay cũng tập trung và hào hứng tìm hiểu hơn thông qua những hoạt động trực quan, hình ảnh thú vị mang tính khái quát hóa cao, sinh động và đây tính sáng tạo hơn.
Chẳng những vậy, chỉ vài thao tác đơn giản, học sinh và giáo viên có thể dễ dàng cập nhật, tìm kiếm thông tin hữu ích thông qua mạng Internet cũng như giao tiếp với nhau. Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của CNTT và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, làm việc, cách học tập, tư duy vốn tồn tại từ rất lâu của con người. Ngoài ra, cùng với sự phát triển ồ ạt của hình thức dạy học từ xa (E-Learning) hiện nay, thì giới hạn về khoản cách địa lý giữa thầy và trò càng được rút ngắn. Các đối tượng học viên có thêm nhiều điều kiện thuận lợi hơn khi theo học những lớp chất lượng cao với chi phí thấp trong khi không cần phải đi quá xa để đến được địa điểm học tập.
Thông qua môi trường Internet, các lớp học điễn ra hiệu quả và sinh động không kém gì các buổi học trực tiếp tại lớp. Chính điều này đã mở ra một triển vọng mới cho phương pháp dạy và học trong thời đại số.3 Tổng quan về dạy học từ xa (E-Learning) "Công nghệ thông tin cũng sẽ làm thay đổi rất lón việc học của chúng ta. Những người công nhân sẽ có khả năng cập nhật các kỹ thuật trong lĩnh vực của mình. Mọi người ở bắt cứ nơi đâu sẽ có khả năng tham gia các khóa học tốt nhất được dạy bởi các giáo viên giỏi nhất." (The Road Ahead, Bill Gates) Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình và cá nhân. Hơn nữa, việc học tập không chỉ bó gọn trong việc học phổ thông, học đại học mà là học suốt đời. E-learning chính là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vẫn đề này. E-learning là một thuật ngữ thu hút được sự quan tâm, chú ý của rất nhiều người hiện nay.
Tuy nhiên, mỗi người hiểu theo một cách khác nhau và dùng trong các ngữ cảnh khác nhau. Do đó, chúng ta sẽ tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của E-learning. Điều này sẽ đặc biệt có ích cho những người mới tham gia tìm hiểu lĩnh vực này.1 Khái niệm dạy học từ xa (E-learning) Hiện nay, có nhiều thuật ngữ được sử dụng để mô tả khái niệm dạy học từ xa, chẳng hạn như "giáo dục mở”, "giáo dục từ xa", "dạy từ xa", "đào tạo từ xa",. Cho dù với khái niệm nào thì bản chất quá trình dạy và học phải bao hàm yếu tố có sự tách biệt, ngăn cách về mặt không gian hoặc thời gian.
E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới. Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-learning. Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin. Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet, Intranet,.
trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio. thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), điễn đàn (forum), hội thảo video. Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học: giao tiếp đồng bộ (Synchronous) và giao tiếp không đồng bộ (Asynchronous). Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập mạng tại cùng một thời và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video, nghe đài phát sóng trực tiếp, xem tivi phát sóng trực tiếp.
Giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: các khoá tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn. Đặc trưng của kiểu học này là giảng viên phải chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra. Học viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học.2 Một số hình thức E-learning Có một số hình thức đào tạo bằng E-learning, cụ thể như sau: 1. Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training): là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin.
Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training): Hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính.