Chương I là: “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hay trình độ đào tạo”. Theo các bậc học loại hình giáo dục Luật giáo dục 2005 cũng quy định chương trình giáo dục cụ thể như: Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phổ thông” “Chương trình giáo dục nghề nghiệp thể hiện mục tiêu giáo dục nghề nghiệp, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục nghề nghiệp, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học, ngành, nghề, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm liên thông với các chương trình giáo 2 dục khác”. Chương trình khung về đào tạo trung cấp chuyên nghiệp bao gồm cơ cấu nội dung, số môn học, thời lượng các môn học, tỷ lệ thời gian giữa lý thuyết và thực hành, thực tập đối với từng ngành nghề đào tạo. Căn cứ vào chương trình khung, trường trung cấp chuyên nghiệp xác định chương trình đào tạo của mình (Điều 35- Luật Giáo dục 2005) ” Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học, ngành, nghề trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm liên thông với các chương trình giáo dục khác” (Điều 41-Luật GD 2005) Chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời lượng đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian giữa các môn học, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập.
Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng trường đại học xác định chương trình đào tạo của trường mình (Điều 41- Luật Giáo dục 2005) Thông thường các cơ quan quản lý đào tạo (Bộ Giáo dục & Dào tạo; Tổng cục Dạy nghề) ban hành chương trình khung. Chương trình khung là bản thiết kế phản ảnh cấu trúc tổng thể về thời lượng và các thành phần, nội dung đào tạo cơ bản (cốt lõi) của chương trình đào tạo là cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo cho từng ngành/nghề cụ thể. Có thể hiểu chương trình khung là khung chương trình cộng với phần nội dung cốt lõi của chương trình đào tạo. Ví dụ theo Quyết định số 21/ 2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 6/6/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình khung giáo dục Trung học chuyên nghiệp trong đó có nêu rõ quy định nội dung tổng thể các hoạt động giáo dục của một khoá học thành một hệ thống hoàn chỉnh và phân bố hợp lý thời gian theo quy định của Luật giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng và mục tiêu giáo dục.
Tiếp cận Module trước khi trở thành một phương thức đào tạo là một ý 3 tưởng về tổ chức quá trình dạy học. Nó là thể hiện cụ thể của một cách tiếp cận trong giáo dục và đào tạo. Chương trình đào tạo là sự thể hiện cuối cùng của các ý tưởng. Để thực hiện một chương trình đào tạo có cấu trúc Module, khi thiết kế chương trình đều có những ý tưởng về tiếp cận đào tạo, sau đó sẽ quyết định mục tiêu - nội dung - phương pháp đào tạo.
Tính hiệu quả của chương trình đào tạo phải được thể hiện qua chất lượng "đầu ra" của người học. Người học phải có khả năng giải quyết được nhanh chóng những nhiệm vụ do sản xuất và dịch vụ đặt ra. Muốn vậy, chương trình đào tạo phải giúp người học phải có được các kỹ năng thực hiện, nó phải thích hợp cho chuyển đổi và di chuyển nghề, cũng như thích hợp cho việc kiểm tra, đánh giá. Chương trình đào tạo là trong những thành tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo và hiệu quả công tác đào tạo.
Việc xây dựng một hệ thống chương trình đào tạo đến tận cơ sở nhằm cung cấp thông tin, tư vấn, hướng dẫn quá trình tự định hướng học tập của người học là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu của các chính sách đào tạo hiện nay. Vì thế chương trình đào tạo có vai trò quan trọng không chỉ với hoạt động học của người học và có tác động mạnh mẽ tới các hoạt động đào tạo của nhà trường về các mặt như: về tính kinh tế, chất lượng đào tạo, quản lý, thị trường đào tạo và tác động của xã hội bên cạnh đó chương trình đào tạo còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như người học, người dạy, nhà tuyển dụng lao động và thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Chương trình đào tạo là tất cả các hoạt động mà người học cần thực hiện để theo học hết khóa học và đạt được mục đích tổng thể. Do đó với người học thì chương trình đào tạo cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ ra cho người học sẽ thu lượm được gì sau khi kết thúc khóa học.
Chương trình đào tạo còn phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, phương pháp và hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Đó là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo, tất cả được sắp xếp theo thời gian biểu chặt chẽ. Đối với nhà trường hay cơ sở đào tạo thì chương trình đào tạo cho biết 4 những nội dung và phương pháp dạy học cần thiết để đạt được mục tiêu đã đề ra. Đó là một kế hoạch phản ánh các mục tiêu đào tạo mà nhà trường sẽ thực hiện.
Vì vậy chương trình đào tạo có những mối quan hệ cơ bản của việc ấn định mục tiêu học tập, nội dung học tập và tổ chức quá trình học tập.Với những phạm vi, quan niệm khác nhau song đều thừa nhận rằng các bộ phận cơ bản cấu thành một chương trình đào tạo bao gồm: - Mục tiêu đào tạo (trình độ đào tạo cần hướng tới) - Nội dung đào tạo ( đối tượng lĩnh hội mà mục tiêu đề ra) - Phương pháp, quy trình đào tạo (phương tiện và cách thức để đạt mục tiêu) - Tổ chức đào tạo ( kế hoạch thực hiện) - Cách thức kiểm tra đánh giá ( kiểm tra đánh giá kết quả dạy và học) Chúng gắn kết chặt chẽ với nhau như một chỉnh thể để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu, nội dung đào tạo và đáp ứng nhu cầu và lợi ích của người học. Đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo a. Khái niệm mục tiêu Trong đời sống xã hội, bất cứ một hoạt động nào trong đó có hoạt động giáo dục đều hướng đến đạt được một kết quả, một mục đích, một kỳ vọng nào đó. Tính mục đích hay hướng đích của các hoạt động vừa mang tính định hướng vừa tạo động lực, động cơ thúc đẩy hoạt động trong các môi trường, điều kiện và hoàn cảnh nhất định.
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng , thuật ngũ mục tiêu được giải nghĩa là cái ” đích ” hướng tới của các hoạt động. Do các hoạt động đều diễn ra theo một quá trình nhất định với nhiều giai đoạn trung gian nên mục tiêu không chỉ đơn thuần là đích tận cùng, mục tiêu còn là những điểm mốc tham chiếu (trung gian) dùng để đánh giá sự tiến triển và để xác định xem hoạt động có đi đúng hướng hay không. Không có mục tiêu rõ ràng, tường minh, chúng ta không thể đánh giá mức độ thành công của hoạt động, và cũng không thể nhận biết hoạt động có đi chệch hướng hay không, chệch đến mức nào và làm thế nào để điều chỉnh cho đúng hướng. Hệ mục tiêu giáo dục Theo cách hiểu thông thường mục tiêu giáo dục là ‘ cái cái đích hướng tới ‘ của quá trình giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người, nhân cách nghề nghiệp tướng ứng với một loaị hình lao dộng nghề nghiệp trong các giai đoạn phát triển cụ thể của đời sống xã hội.
Theo từ điển Giáo dục học- NXB Từ điển bách khoa 2001 khái niệm mục tiêu giáo dục được định nghĩa là : ‘Mô hình nhân cách có tính định chuẩn của cả hệ thống giáo dục quốc dân hay của từng phân hệ giáo dục được xác định trên cơ sở những yêu cầu của xã hội về người công dân, về nguồn nhân lực’. Mục tiêu giáo dục không chỉ dừng ở việc trang bị hệ thống kiến thức đơn thuần, hình thành kỹ năng hành nghề mà còn cần phát triển các phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy của người học cũng như sự hình thành và phát triển thái độ, phẩm chất, ý thức nghề nghiệp của người học trong quá trình đào tạo. Hoạt động giáo dục rất phong phú và đa dạng với nhiều loại hình, bậc trình độ khác nhau trong hệ thống giáo dục tương ứng với từng giai đoạn phát triển của đời sống của từng cá nhân trong xã hội từ tuổi ấu thơ cho đến tuổi trưởng thành được định hướng và xác lập bằng hệ thống các mục tiêu giáo dục tổng quát và các mục tiêu trung gian (hệ mục tiêu giáo dục). Xét về tổng thể sẽ hình thành một hệ mục tiêu giáo dục từ định hướng, mục đích giáo dục chung đến mục tiêu từng bậc học, loại hình đào tạo, mục tiêu từng khoá đào tạo, mục tiêu từng môn học, phần học và mục tiêu từng bài học ( Xem hình 1) 6 Xác định đặc trưng, tính chất, Mục tiêu giáo dục bản chất của nền giáo dục ).
tổng quát/chung Thể hiện triết lí , tư tưởng của mang tính định hướng giáo dục ,nhu cầu xã hội về giáo chung hay còn gọi là dục như : Nền GD XHCN; Giáo mục đích giáo dục dục là quốc sách hàng đầu; giáo (Aim) dục vì sự phát triển tiến bộ của con người và xã hội.vv Theo từng cấo bậc học trong hệ thống giáo dục : Mục tiêu giáo dục mầm non, phổ thông, giáo Theo các cấp /bậc học dục nghề nghiệp, giáo dục (General goal) đại học.vv Mục tiêu đào tạo - Theo các khoá đào tạo, ( Goal). loại hình trường.