Chương 1: Căn cứ xây dựng đề án Chương 2: Nội dung đề án Chương 3: Kiến nghị 4 CHƢƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.1 Cơ sở lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại 1. Khái quát chung về Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo khoản 12, điều 8 Luật Doanh nghiệp 2019 của Lào có nêu định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Theo quy định tại Điều 5 Nghị định Số: 16/2015/NĐ-CP Lào ngày 30/05/2015 của chính phủ Lào thì DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Lào Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô Khu vực nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động động nguồn vốn động vốn từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 200 I.
Nông, lâm nghiệp 10 người 10 tỷ Kip người đến Kip đến người đến và thủy sản trở xuống trở xuống 200 người 500 tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 200 II. Công nghiệp và 10 người 10 tỷ Kip người đến Kip đến người đến xây dựng trở xuống trở xuống 200 người 50 tỷ Kip 300 người từ trên 10 từ trên 5 tỷ từ trên 50 III. Thương mại và 10 người 5 tỷ Kip người đến Kip đến 25 người đến dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người tỷ Kip 100 người (Nguồn: Nghị định Số: 16/2015/NĐ-CP ngày 30/05/2015 của chính phủ Lào) Theo quy định tại Điều 5 Nghị định Số: 16/2015/NĐ-CP ngày 30/05/2015 của chính phủ Lào thì DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí 5 ưu tiên), cụ thể bảng 1. Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt ở khắp nơi trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, xã hội.
Khả năng linh hoạt trong việc chuyển đổi ngành nghề, tăng giảm quy mô, số lượng lao động. - Quy mô nhỏ DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về nguồn vốn, số lượng lao động, có mô hình quản lý đơn giản, chi phí quản lý, chi phí đào tạo không lớn và luôn trong tình trạng thiếu vốn cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc hay thực hiện các dự án của doanh nghiệp. - Tính linh hoạt cao DNNVV có khả năng đầu tư đa dạng và linh hoạt. Điều này được thể hiện ở việc DNNVV có nguồn vốn thấp do đó dễ chuyển đổi loại hình kinh doanh, phương án đầu tư, “sử dụng linh hoạt các loại máy móc thiết bị, có thể dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị với chi phí không quá lớn, kết hợp được cả công nghệ truyền thống và hiện đại.
- Bộ máy tổ chức hoạt động đơn giản: Do quy mô nhỏ và số lượng lao động không nhiều nên việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý của DNNVV gọn nhẹ, đơn giản. Không có sự phân tầng rõ rệt giữa các phòng ban và tính chuyên môn hoá chưa cao. - Năng lực tài chính còn yếu: Có DNNVV hiện nay chưa thực sự chú trọng đến tính minh bạch của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp. “Lý do trước hết là do trình độ quản lý và quan điểm của ban quản trị chưa quan tâm đúng mức tới vai trò của hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
- Khả năng tiếp cận nguồn vốn thấp: Nguồn vốn chủ yếu của các DNNVV thường là vốn tự có hoặc vốn vay trên thị trường phi tài chính. Cùng với các kênh trên, khá nhiều chương trình, dự án hỗ 6 trợ tín dụng nói chung và hỗ trợ tín dụng cho DNNVV nói riêng đã được xây dựng và triển khai như: Chương trình ưu đãi tài chính cho ngành công nghiệp hỗ trợ; Chương trình bảo lãnh vay vốn cho dự án sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại các DNNVV từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia. - Thiếu thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận thị trường tài chính: Thứ nhất, khu vực này thường bị thiếu thông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, lao động, nguyên vật liệu, thiết bị, công nghệ, thiếu thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước cũng như cho xuất khẩu và đặc biệt là chưa tiếp cận được công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp. Thứ hai, là DNNVV thường không biết các nguồn thông tin mà họ nên tham khảo.
Điều này khiến họ tụt hậu về công nghệ. Thứ ba, việc tiếp cận thông tin và cải tiến công nghệ đòi hỏi thay đổi nhiều về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm. Nó làm thay đổi từ bên trong tổ chức. Việc doanh nghiệp tụt hậu về công nghệ do hạn chế về tổ chức và tầm nhìn chiến lược thích đáng.
- Khả năng tiếp cận thị trường kém: Khả năng xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường trong và ngoài nước còn nhiều hạn chế, thường chưa nắm bắt, khai thác và đáp ứng được nhu cầu thị trường. Do công nghệ lạc hậu, nên các sản phẩm của các DNNVV thường chỉ cung cấp sản phẩm thông dụng, chưa có những sáng tạo đột phá để tăng tính cạnh tranh và kích thích tiêu dùng. Cơ sở lý luận về cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hoạt động cho vay góp phần lưu thông dòng tiền trong xã hội, chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn,” để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển xã hội. (Đinh Xuân Hạng, 2012) + Một là, cho vay khách hàng DNNVV tại ngân hàng cần đạt được mục tiêu phát triển hoạt động cho vay.
Trong xu hướng tăng cường bán lẻ và phân tán rủi ro hiện nay, cho vay khách 7 hàng DNNVV là nghiệp vụ quan trọng của hệ thống NHTM. Vì vậy, phát triển cho vay khách hàng DNNVV được quan tâm hàng đầu của mỗi ngân hàng. Do vậy, cho vay khách hàng DNNVV cần đạt được mục tiêu tăng trưởng về số lượng khách hàng, về dư nợ cho vay + Hai là, cho vay khách hàng DNNVV cần đảm bảo an toàn tín dụng Cho vay khách hàng DNNVV là hoạt động tạo ra giá trị cho ngân hàng nhưng cũng là rủi ro cơ bản bao trùm dẫn đến sự đổ bể của nhiều NHTM. Vì vậy phát triển cho vay khách hàng DNNVV phải gắn liền với an toàn trong cho vay khách hàng DNNVV, kiểm soát cho vay, hạn chế tối đa rủi ro.
+ Ba là, cho vay khách hàng DNNVV cần đảm bảo mục tiêu hiệu quả Do lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nên lợi nhuận càng cao càng cho sự phát triển của hoạt động tín dụng DNNVV tốt và càng phản ánh chất lượng các khoản vay tốt. Cho vay doanh nghiệp nói chung và cho vay DNNVV nói riêng là khoản cho vat tài chính doanh nghiệp nhằm đáp ứng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mục đích của doanh nghiệp thường là bổ sung vốn lưu động, mua thiết bị máy móc, hoặc đầu tư khác. Ngân hàng sẽ cấp cho doanh nghiệp quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được các bên thõa thuận trong hợp đồng tín dụng nhằm phục vụ các mục đích nêu trên của khách hàng trong một thời hạn nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Đặc điểm cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa Do doanh nghiệp nhỏ và vừa là một cấu phần trong doanh nghiệp nói chung do vậy các đặc điểm cho vay DNNVV cũng giống như cho vay doanh nghiệp, có đầy đủ các phương thức cho vay như các đối tượng DN khác. Tuy nhiên tùy thuộc vào đặc điểm của DNVVN mà hoạt động cho vay đối tượng này cũng có một số đặc điểm sau: - Đối tượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa rất đa dạng với nhiều lĩnh vực khác nhau, hoạt động hầu như mọi ngành, lĩnh vực khác nhau. - Số lượng khách hàng DNVVN vay vốn thường ít hơn so với khách hàng cá nhân, hộ gia đình nhưng dư nợ cho vay doanh nghiệp hầu như luôn chiếm tỷ trọng 8 lớn trong tổng dư nợ cho vay. Do các nhu cầu của các khách hàng cá nhân thường là phục vụ mục đích tiêu dùng trong khi doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh, nên dư nợ của khách hàng doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng dư nợ tại NHTM.
- Hoạt động cho vay KHDNVVN linh hoạt nhờ quy mô nhỏ và tính chủ động và tự quyết cao, có thể lấy ví dụ như giá cả hàng hóa và dịch vụ cung cấp ra thị trường có tính linh động cao, phù hợp với nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng - Hoạt động cho vay DNVVN tuy gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng có một số vấn đề khó khăn xuất phát từ việc hoạt động cần ít vốn mặc dù tạo sự linh hoạt, chủ động nhưng đó cũng là điểm hạn chế về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn.